Một số điểm mới đáng chú ý theo quy định tại
Luật Chuyển đổi số năm 2025
Luật Chuyển đổi số 148/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 11 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, Luật đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của khung pháp lý về chuyển đổi số tại Việt Nam. Dưới đây là một số điểm mới nổi bật mà cơ quan, doanh nghiệp và người dân cần nắm để kịp thời điều chỉnh kế hoạch triển khai, tuân thủ và tận dụng các cơ hội từ quá trình chuyển đổi số. Cụ thể:
1. Mở rộng và “Luật hoá” khái niệm chuyển đổi số
Theo Điều 3 Luật Chuyển đổi số 2025, Chuyển đổi số được hiểu là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số, nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch.
Hạ tầng số là tập hợp các hệ thống kỹ thuật, kết nối, điện toán, lưu trữ và các thành phần công nghệ số bảo đảm cho hoạt động trên môi trường số, bao gồm cơ sở hạ tầng viễn thông, hạ tầng trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng truyền dẫn cho kết nối máy tới máy.
Hệ thống số là sự phát triển của hệ thống thông tin, bao gồm các thành phần công nghệ số, dữ liệu số, nền tảng số, phần mềm, phần cứng, thuật toán, mô hình xử lý và thiết bị kết nối được tổ chức để tạo lập, xử lý, lưu trữ, kết nối và vận hành dịch vụ số hoặc quy trình số trên môi trường số; bao gồm cả trường hợp hoạt động điều hành theo thời gian thực.
Nền tảng số là hệ thống thông tin nhằm tạo môi trường số cho phép các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc sử dụng để phát triển sản phẩm, dịch vụ.
Môi trường số là không gian hoạt động, tương tác, giao dịch và cung cấp dịch vụ được hình thành và vận hành thông qua hạ tầng số, hạ tầng số công cộng, hệ thống số, nền tảng số và dữ liệu số.
Chính phủ số là mô hình để tổ chức và vận hành của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hệ thống số và nền tảng số để ra quyết định kịp thời, điều hành hiệu quả, bảo đảm minh bạch và kết nối, liên thông với tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Kinh tế số là hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số, hệ thống số, nền tảng số và mô hình vận hành số.
Xã hội số là trạng thái xã hội trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu hoạt động, tương tác thông qua các dịch vụ số, hệ thống số, nền tảng số và môi trường số.
2. Nguyên tắc chuyển đổi số: Nhấn mạnh lấy người sử dụng là trung tâm
Theo Điều 6 Luật Chuyển đổi số 2025 đưa ra 8 nguyên tắc chuyển đổi số như sau:
- Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, lấy người sử dụng làm trung tâm, nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo giá trị mới cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
- Tăng cường kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, khai báo 1 lần là mặc định để nâng cao hiệu quả quản lý, hạn chế trùng lặp, giảm thủ tục và nâng cao năng lực ra quyết định.
- Bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích áp dụng các biện pháp tiên tiến để nâng cao mức độ an toàn.
- Được triển khai linh hoạt, thích ứng với đổi mới công nghệ; khuyến khích thử nghiệm, ứng dụng công nghệ mới phù hợp với đặc thù từng lĩnh vực.
- Bảo đảm tính bao trùm, tạo điều kiện để mọi tổ chức và cá nhân đều có cơ hội tiếp cận, sử dụng dịch vụ số thuận lợi, an toàn và hiệu quả.
- Bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các quyết định dựa trên công nghệ số nhằm nâng cao niềm tin của người sử dụng.
- Khuyến khích gắn với hoạt động đo lường, đánh giá, giám sát và cải thiện liên tục để nâng cao hiệu quả triển khai và chất lượng dịch vụ.
- Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc chuyển đổi số. Nhà nước khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước áp dụng các nguyên tắc này trong hoạt động của mình.
3. Hợp tác quốc tế về chuyển đổi số
Nhà nước đẩy mạnh hợp tác song phương, đa phương với các quốc gia, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp toàn cầu trong lĩnh vực chuyển đổi số theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.
Hợp tác quốc tế về chuyển đổi số tập trung vào các hoạt động sau đây:
- Trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ;
- Thu hút đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường cho sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ chuyển đổi số của Việt Nam; thúc đẩy, mở rộng thương mại điện tử;
- Đào tạo, trao đổi chuyên gia; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực số;
- Xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật có tính tương thích quốc tế;
- Tham gia tích cực các diễn đàn, sáng kiến và thiết lập khuôn khổ hợp tác quốc tế về chuyển đổi số.
4. Yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số
- Yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số được áp dụng bắt buộc đối với hệ thống thông tin, nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số của cơ quan nhà nước, hệ thống số phục vụ lợi ích công, dịch vụ số thiết yếu và hệ thống số của tổ chức, doanh nghiệp được cơ quan nhà nước giao cung cấp dịch vụ công.
Đối với hệ thống số của tổ chức, doanh nghiệp khác, Nhà nước khuyến khích áp dụng theo khả năng và nhu cầu.
- Bảo đảm an ninh mạng theo cấp độ; có cơ chế giám sát, phát hiện, cảnh báo, ứng cứu và khôi phục hoạt động khi xảy ra sự cố.
- Bảo đảm khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu theo chuẩn với các hệ thống khác; hỗ trợ giao diện lập trình ứng dụng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sử dụng chuẩn dữ liệu quốc gia, chuẩn mở, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định.
- Dữ liệu được xử lý bởi hệ thống số phải được lưu trữ, sao lưu, bảo vệ và phục hồi theo phương án bảo đảm tính toàn vẹn, tính sẵn sàng và khả năng chống chịu sự cố; tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và dữ liệu quan trọng, dữ liệu cốt lõi theo pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, pháp luật về dữ liệu.
- Hệ thống số và dịch vụ số phải duy trì mức độ sẵn sàng hoạt động tối thiểu; có phương án dự phòng và chuyển đổi dự phòng để bảo đảm hoạt động thông suốt đối với hệ thống quan trọng hoặc dịch vụ thiết yếu.
- Hệ thống số phải ghi nhận, lưu trữ và bảo vệ nhật ký hoạt động; bảo đảm khả năng kiểm tra, giám sát và truy vết phục vụ thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giải trình khi cần thiết.
- Hệ thống số và dịch vụ số phải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn, yêu cầu kỹ thuật về khả năng tiếp cận tối thiểu đối với người sử dụng, đặc biệt là người khuyết tật, người cao tuổi và các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác.
8. Hệ thống số được phân loại theo mức độ rủi ro, quan trọng, lĩnh vực, phạm vi ảnh hưởng và có lộ trình áp dụng yêu cầu tối thiểu theo quy định của Chính phủ.
5. Ưu đãi cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số
Theo Điều 19 Luật chuyển đổi số quy định về ưu đãi cán bộ, công chức, viên chức làm công tác chuyển đổi số như sau:
- Cơ quan thuộc hệ thống chính trị thực hiện chế độ đãi ngộ đặc thù cho người làm công tác chuyển đổi số bao gồm
- Cán bộ, công chức, viên chức thuộc đơn vị được giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về chuyển đổi số của các cơ quan ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Người làm công tác chuyên trách về chuyển đổi số, an ninh mạng trong cơ quan trong hệ thống chính trị
Tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các vị trí việc làm khác liên quan đến chuyển đổi số.
- Các hình thức đãi ngộ: Tiền lương; Phụ cấp; Điều kiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp; Các hình thức khen thưởng khác
Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 1 Điều 30 Luật chuyển đổi số quy định về việc thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá hiệu quả chuyển đổi số như sau:
+ Định kỳ hằng năm tổ chức đánh giá mức độ chuyển đổi số của quốc gia, các bộ, ngành, địa phương
+ Kết quả đánh giá được công bố công khai và là căn cứ xếp hạng, khen thưởng, điều chỉnh chính sách, ưu tiên bố trí kinh phí cho các cơ quan, địa phương.
6. Quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động chuyển đổi số
Theo Điều 5 Luật Chuyển đổi số, những hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:
- Cản trở, phá hoại hoạt động chuyển đổi số; làm gián đoạn, đình trệ, gây mất an toàn cho hệ thống số của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Truy cập, can thiệp trái phép, làm sai lệch, vô hiệu hóa, gây tổn hại đến hệ thống số, dữ liệu số, nền tảng số và dịch vụ số.
- Thu thập, sử dụng, chia sẻ, mua, bán, khai thác dữ liệu số trái quy định của pháp luật.
- Lợi dụng chuyển đổi số để lừa đảo, thao túng, trục lợi, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Lợi dụng chức trách, quyền hạn để gây cản trở, phân biệt đối xử, tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh trong phát triển, vận hành, khai thác hệ thống số.
Việc ban hành Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số ở nước ta; đồng thời, sẽ tạo khung pháp lý thống nhất, liên ngành, góp phần tháo gỡ vướng mắc, tăng cường tính liên thông, chia sẻ dữ liệu và đảm bảo an toàn, an ninh mạng trong quá trình chuyển đổi số quốc gia./.
Phan Linh- Phòng PBGDPL