1. Tình huống 1: Tôi sinh năm 1979, đã thực hiện đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú (nay là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ), hiện nay tôi đăng ký cư trú và sinh sống tại phường Vĩnh Yên, tỉnh Phú Thọ. Do tôi đang thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nên cần đến Giấy khai sinh. Tôi liên hệ với Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú để được cấp giấy khai sinh nhưng bị từ chối với lý do không lưu trữ được sổ đăng ký khai sinh có tên tôi. Vậy tôi phải làm sao để có được giấy khai sinh của bản thân.
Trả lời: Trường hợp Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú không cấp bản sao Giấy khai sinh cho ông/bà do không có thông tin quản lý dữ liệu khai sinh trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch. Để được cấp Giấy khai sinh mới, ông/bà có thể thực hiện thủ tục đăng ký lại khai sinh nếu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch khi việc khai sinh “được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại”.
Thẩm quyền đăng ký lại khai được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Theo đó, ông/bà có thể lựa chọn đăng ký lại khai sinh tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ (là nơi đăng ký khai sinh trước đây) hoặc đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Yên, tỉnh Phú Thọ (nơi ông/bà đang cư trú).
Hồ sơ đăng ký lại khai sinh được thực hiện theo quy định tại Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, gồm: (1) Tờ khai đăng ký lại khai sinh (theo mẫu), trong đó có cam đoan của người yêu cầu về việc đã đăng ký khai sinh nhưng người đó không lưu giữ được bản chính Giấy khai sinh; (2) Bản sao toàn bộ hồ sơ, giấy tờ của ông/bà hoặc hồ sơ, giấy tờ, tài liệu khác trong đó có các thông tin liên quan đến nội dung khai sinh của ông/bà; (3) Trường hợp người yêu cầu đăng ký lại khai sinh là cán bộ, công chức, viên chức, người đang công tác trong lực lượng vũ trang thì ngoài các giấy tờ nêu tại mục (1), (2) nêu trên, phải có văn bản xác nhận của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị về việc những nội dung khai sinh của người đó gồm họ, chữ đệm, tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha - con, mẹ - con phù hợp với hồ sơ do cơ quan, đơn vị đang quản lý. Thủ tục đăng ký lại khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Khoản 5 Điều 26 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.
2. Tình huống 2: Gia đình tôi phát hiện và đang tạm thời chăm sóc, nuôi dưỡng 01 trẻ em bị bỏ rơi trước cửa nhà, nên tôi muốn được tìm hiểu quy định pháp luật về đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi.
Trả lời: Việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, cụ thể như sau:
“1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo. Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
2. Sau khi lập biên bản theo quy định nêu trên, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.
3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.
Tình huống 3: Tôi năm nay 23 tuổi, đã sinh 01 bé trai vào tháng 02 năm 2026, tôi chưa đăng ký kết hôn. Xin hỏi tôi làm thủ tục đăng ký khai sinh và muốn ghi thông tin bố đẻ cháu vào Giấy Khai sinh thì có được không?
Trả lời:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2014 “Mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác” và trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, người mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con.
Nếu chị muốn ghi thông tin người cha vào Giấy Khai sinh của con thì phải đồng thời thực hiện thủ tục nhận cha, con theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh người cha yêu cầu làm thủ tục nhận con theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 của Luật Hộ tịch thì Ủy ban nhân dân kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh”. Hồ sơ kết hợp giải quyết việc đăng ký khai sinh và nhận cha, mẹ, con được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ, bao gồm: Tờ khai đăng ký khai sinh, Tờ khai đăng ký nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định; Giấy chứng sinh hoặc giấy tờ thay thế Giấy chứng sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật hộ tịch; Chứng cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con theo quy định tại Điều 14 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP. Nội dung đăng ký khai sinh xác định theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 6 Thông tư số 04/2020/TT-BTP. Giấy khai sinh và Trích lục đăng ký nhận cha, mẹ, con được cấp đồng thời cho người yêu cầu.
Mai Phương- Phòng HCTP