Trong lĩnh vực quản lý hộ tịch, yếu tố dân tộc có vai trò đặc biệt mang tính đặc trưng, quan trọng trong công tác đăng hộ tịch theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vì “dân tộc” là một dấu hiệu xác định “nguồn gốc” của một người, là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, là yếu tố bắt buộc trong đăng ký hộ tịch như đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, khai tử. Thông tin về dân tộc trong giấy tờ hộ tịch không chỉ phục vụ quản lý dân cư mà còn là căn cứ để thực hiện các chính sách ưu tiên, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Việc ghi nhận chính xác yếu tố dân tộc trong đăng ký hộ tịch giúp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kê, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở vùng dân tộc thiểu số. Trên thực tế không phải quốc gia nào cũng đưa yếu tố “dân tộc” vào nội dung quản lý hộ tịch, điều này phản ánh lịch sử, đời sống chính trị - xã hội đặc trưng của Việt Nam với 54 dân tộc khác nhau. Từ rất sớm, yếu tố “dân tộc” đã được xác định là một nội dung không thể thiếu của công tác hộ tịch, mà văn bản pháp lý đầu tiên để xác định một người thuộc dân tộc nào là Giấy khai sinh, thông qua thủ tục đăng ký khai sinh – thủ tục pháp lý đầu tiên xác định nhân thân của một người.
Việc xác định dân tộc của một người được pháp luật về dân sự và pháp luật về hộ tịch điều chỉnh trực tiếp, tại Điều 14 của Luật Hộ tịch năm 2014 quy định nội dung đăng ký khai sinh gồm các thông tin của người được đăng ký khai sinh về họ, chữ đệm và tên; giới tính; ngày, tháng, năm sinh; nơi sinh; quê quán; dân tộc; quốc tịch; số định danh cá nhân và thông tin về cha, mẹ của người được đăng ký khai sinh. Đồng thời, tại Điều 29 của Bộ luật Dân sự năm 2015 (thực chất là sự kế thừa Điều 28 của Bộ luật Dân sự năm 2005) quy định: Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc theo dân tộc của mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, khi trẻ được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em. Dân tộc của một người được ghi nhận trong Giấy khai sinh, Sổ đăng ký khai sinh, và được xác định là thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân, được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Theo đó, mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân liên quan đều phải ghi nhận và phù hợp với nội dung khai sinh, trong đó có “dân tộc”.
Tuy nhiên, sau khi đăng ký khai sinh, công dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc của mình, theo quy định tại Khoản 3 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc xác định lại dân tộc được thực hiện khi: Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì cá nhân có quyền đề nghị xác định lại dân tộc từ dân tộc của cha đẻ sang theo dân tộc của mẹ đẻ hoặc ngược lại; trường hợp trẻ bị bỏ rơi, được nhận làm con nuôi và đã được xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi, khi tìm thấy cha mẹ đẻ thì có quyền xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha, mẹ đẻ. Theo Khoản 4 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định đối với trường hợp xác định lại dân tộc cho người từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi phải được sự đồng ý của người đó.
Như vậy, về nguyên tắc dân tộc của một người được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ đẻ; việc xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi hoặc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng, người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ tại thời điểm đăng ký khai sinh chỉ thực hiện đối với trẻ bị bỏ rơi, không xác định được cha, mẹ đẻ. Quy định này, nhằm không để chống phần ghi “dân tộc” trong Giấy khai sinh.
Trong thời gian qua, do thiếu hiểu biết hoặc cố tình thực hiện sai quy định của pháp luật về vấn đề dân tộc, nên đã có những trường hợp người dân lợi dụng nhận làm con nuôi của người dân tộc thiểu số nhằm mục đích xin xác định lại dân tộc theo dân tộc của cha, mẹ nuôi để hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước. Điều này, trước hết là hành vi vi phạm pháp luật về nuôi con nuôi; đồng thời việc xác định lại dân tộc trong trường hợp này không được pháp luật cho phép, vì một người chỉ được xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi khi không xác định được cha, mẹ đẻ như đã nêu trên. Do đó, trong công tác quản lý nhà nước, cơ quan đăng ký hộ tịch cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân biết quy định tại Khoản 5 Điều 29 Bộ luật Dân sự năm 2015 về việc pháp luật nghiêm “cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam”. Đồng thời thực hiện đúng quy định pháp luật về hộ tịch; chủ động kiểm tra, xác minh và giải thích rõ cho người dân biết quyền, nghĩa vụ liên quan đến vấn đề dân tộc để thực hiện theo đúng quy định pháp luật, đảm bảo việc xác định dân tộc được chính xác, đúng luật./.
Mai Phương – Phòng HCTP