Đỗ Thúy Vân - Phó Giám đốc Sở
Sau hơn 13 năm triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) đã đạt nhiều kết quả quan trọng, từng bước khẳng định vai trò là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp.
Theo số liệu tổng hợp toàn quốc, giai đoạn 2013–2022, các bộ, ngành, địa phương đã tổ chức trên 3,1 triệu cuộc phổ biến pháp luật trực tiếp, thu hút trên 220 triệu lượt người tham dự; tổ chức hàng chục nghìn cuộc thi tìm hiểu pháp luật; phát hành hàng trăm triệu tài liệu pháp luật; xây dựng hàng triệu tin, bài, chuyên mục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Những con số trên cho thấy sự nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn vào thực tiễn tổ chức thi hành, có thể thấy một vấn đề mang tính căn cơ: mặc dù quy mô hoạt động rất lớn, nhưng ở không ít nơi, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn chưa tạo được sự chuyển biến đồng đều về nhận thức và hành vi tuân thủ pháp luật; phương thức tổ chức ở nhiều nơi vẫn nặng về truyền đạt một chiều; việc huy động nguồn lực xã hội còn khiêm tốn, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.
Chính thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận lại vai trò của xã hội hóa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, không chỉ như một giải pháp tổ chức thực hiện, mà cần được xác định là một định hướng chính sách lớn, cần được thể chế hóa mạnh mẽ hơn trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Nếu chỉ Nhà nước thực hiện, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật khó tránh khỏi tính “một chiều”
Bản chất sâu xa của PBGDPL không chỉ là truyền đạt quy định pháp luật, mà là hình thành tri thức pháp lý, củng cố niềm tin vào pháp luật, từ đó từng bước chuyển hóa thành hành vi tự giác tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, nếu công tác này chủ yếu do cơ quan nhà nước tổ chức theo mô hình truyền thống – cơ quan nhà nước xây dựng kế hoạch, tổ chức hội nghị, biên soạn tài liệu, cử báo cáo viên truyền đạt – thì xét về bản chất, đây vẫn chủ yếu là quá trình truyền thông từ trên xuống.
Mô hình này có ý nghĩa nhất định, nhưng trong điều kiện xã hội ngày càng đa dạng, nhu cầu pháp lý ngày càng chuyên sâu, cá thể hóa, đa nền tảng, thì việc chỉ dựa vào cơ quan nhà nước khó có thể đáp ứng đầy đủ.
Thực tiễn cho thấy: doanh nghiệp cần kiến thức về đầu tư, thuế, lao động, bảo hiểm, thương mại điện tử; thanh niên quan tâm đến pháp luật trên không gian mạng, khởi nghiệp, sở hữu trí tuệ; nông dân quan tâm đến đất đai, môi trường, sản xuất nông nghiệp; người lao động quan tâm đến bảo hiểm xã hội, an toàn lao động; đồng bào dân tộc thiểu số cần tiếp cận pháp luật bằng ngôn ngữ, hình thức phù hợp với văn hóa bản địa.
Rõ ràng, một cơ quan nhà nước, với nguồn lực hữu hạn, khó có thể đồng thời đáp ứng đầy đủ, chuyên sâu và kịp thời mọi nhu cầu pháp lý đa dạng đó.
Muốn hình thành một xã hội thượng tôn pháp luật, cần chuyển từ tư duy:“Nhà nước phổ biến pháp luật cho xã hội” sang “Toàn xã hội cùng học tập pháp luật, cùng lan tỏa tri thức pháp lý, cùng xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.”
Nguồn lực ngân sách là hữu hạn, trong khi nhu cầu tiếp cận pháp luật ngày càng mở rộng
Một trong những bất cập nổi bật được phản ánh trong tổng kết thi hành Luật là nguồn lực cho công tác PBGDPL ở nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; việc bố trí kinh phí chưa đồng đều; định mức chi còn thấp; nhiều hoạt động đổi mới, ứng dụng công nghệ chưa có cơ sở tài chính phù hợp.
Trong khi đó, khối lượng công việc ngày càng lớn. Hệ thống PBGDPL hiện nay được triển khai thông qua mạng lưới rất rộng, gồm hàng nghìn công chức pháp chế, công chức tư pháp, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh và hàng chục nghìn tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở.
Sau khi tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình 02 cấp, cấp xã trở thành cấp gần dân nhất, trực tiếp nhất, đồng thời cũng là cấp chịu áp lực lớn nhất trong việc đưa pháp luật đến người dân.
Nếu tiếp tục chỉ dựa chủ yếu vào ngân sách nhà nước, sẽ rất khó đáp ứng các yêu cầu mới như: xây dựng nền tảng học tập pháp luật số; phát triển cơ sở dữ liệu pháp luật thân thiện với người dân; sản xuất video, podcast, infographic, livestream pháp luật; cung cấp thông tin pháp luật theo từng nhóm đối tượng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, trợ lý pháp lý số.
Do đó, xã hội hóa không chỉ là lựa chọn, mà là yêu cầu tất yếu.
Xã hội hóa không chỉ bổ sung kinh phí, mà còn mở rộng tri thức, công nghệ và phương thức tiếp cận
Điểm giá trị nhất của xã hội hóa không nằm ở việc “huy động thêm tiền”, mà ở việc tạo ra hệ sinh thái phổ biến pháp luật đa chiều.
Khi các chủ thể xã hội cùng tham gia, công tác PBGDPL sẽ không còn bị giới hạn trong khuôn khổ hội nghị, tập huấn hay tài liệu giấy.
Các phụ lục tổng kết của Bộ Tư pháp cho thấy nhiều mô hình PBGDPL sáng tạo, hiệu quả đã được triển khai như:
* phổ biến pháp luật qua livestream trên mạng xã hội;
* mô hình “Mỗi ngày một câu hỏi, mỗi tuần một điều luật”;
* mô hình tổ nhóm nhỏ “đi từng ngõ, gõ từng nhà”;
* phổ biến pháp luật qua tiểu phẩm truyền thông, fanpage, podcast, video số;
* phổ biến pháp luật kết hợp trò chơi tương tác, tình huống thực tiễn.
Điểm đáng chú ý là nhiều mô hình này không xuất phát từ cơ quan tư pháp, mà từ: lực lượng vũ trang; cơ quan bảo hiểm xã hội; trường học; cơ quan truyền thông; tổ chức đoàn thể; đơn vị công nghệ.
Điều đó cho thấy: khi xã hội cùng tham gia, pháp luật không còn là “nội dung phải nghe”, mà trở thành “tri thức có nhu cầu tìm hiểu”.
Kinh nghiệm từ các lĩnh vực kinh tế - xã hội cho thấy: xã hội hóa chỉ hiệu quả khi có công cụ pháp lý rõ ràng
Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, đào tạo nghề, truyền thông công ích…, Nhà nước đã chuyển mạnh từ tư duy “tự làm” sang “kiến tạo và huy động xã hội cùng làm”.
Các công cụ pháp lý phổ biến hiện nay gồm: đặt hàng cung cấp dịch vụ công; giao nhiệm vụ theo sản phẩm đầu ra; hỗ trợ đề án, mô hình, sáng kiến; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng; ưu tiên sử dụng cơ sở vật chất công; ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai đối với hoạt động xã hội hóa.
Chính nhờ các công cụ này mà nhiều lĩnh vực đã phát triển nhanh, đa dạng và bền vững. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hoàn toàn có thể vận dụng kinh nghiệm đó.
Dự thảo Luật đã mở ra tư duy xã hội hóa, nhưng cần thể chế hóa sâu hơn
Dự thảo Luật đã dành Điều 5 để quy định về xã hội hóa; đồng thời mở ra cơ chế để Chính phủ, HĐND cấp tỉnh ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoặc hỗ trợ công tác PBGDPL. Đây là bước tiến rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, xét dưới góc độ tổ chức thực hiện, quy định hiện nay mới dừng ở việc “mở chính sách”, nhưng chưa thiết kế đầy đủ công cụ thực thi chính sách.
Nói cách khác, dự thảo đã bước đầu trả lời câu hỏi: “Ai được hỗ trợ?” nhưng chưa trả lời đầy đủ: “Hỗ trợ bằng cách nào? Hỗ trợ thông qua công cụ nào? Cơ chế tài chính nào được áp dụng?”
Nếu không được thể chế hóa cụ thể, xã hội hóa rất dễ tiếp tục dừng ở chủ trương.
Đề xuất thể chế hóa trong dự thảo Luật theo hướng thực chất, khả thi
Từ thực tiễn tổ chức thi hành tại địa phương, cần nghiên cứu hoàn thiện dự thảo Luật theo các định hướng sau:
Thứ nhất, xác định xã hội hóa là một nguyên tắc tổ chức thực hiện
Điều luật nên thể hiện rõ: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng, bảo đảm chính sách; khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, tổ chức xã hội tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ hai, cụ thể hóa các hình thức ưu đãi, hỗ trợ
Cần quy định rõ chính sách hỗ trợ bao gồm: đặt hàng, giao nhiệm vụ; hỗ trợ kinh phí theo sản phẩm đầu ra; hỗ trợ đề án, mô hình, sáng kiến; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng; hỗ trợ cơ sở vật chất, nền tảng số; chính sách tôn vinh, khuyến khích phù hợp.
Thứ ba, bổ sung cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ
Điều luật nên được thiết kế theo hướng: Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn tổ chức, cá nhân cung cấp sản phẩm, dịch vụ phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật. Đây là công cụ có tính quyết định, tạo cơ sở pháp lý để huy động luật sư, luật gia, trường đại học, doanh nghiệp công nghệ, cơ quan báo chí cùng tham gia.
Thứ tư, gắn xã hội hóa với chuyển đổi số
Cần tạo hành lang pháp lý để huy động doanh nghiệp công nghệ số tham gia xây dựng: nền tảng học tập pháp luật; ứng dụng pháp luật; trợ lý pháp lý thông minh; kho học liệu pháp luật mở; nội dung pháp luật số hóa, cá thể hóa theo nhu cầu người dân.
Thực tiễn phát triển của nhiều lĩnh vực đã chứng minh: nơi nào Nhà nước chuyển từ tư duy “làm thay” sang tư duy “kiến tạo và huy động xã hội cùng làm”, nơi đó chính sách phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, hiệu quả hơn. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Thúc đẩy xã hội hóa trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ để giải quyết bài toán nguồn lực, mà sâu xa hơn là để xây dựng một xã hội mà trong đó mỗi người dân không chỉ được phổ biến pháp luật, mà còn chủ động học tập pháp luật; mỗi tổ chức không chỉ chấp hành pháp luật, mà còn trở thành một chủ thể lan tỏa văn hóa pháp luật; và toàn xã hội cùng chung tay xây dựng ý thức thượng tôn pháp luật như một giá trị phát triển bền vững.