1. Tình huống: Vợ chồng tôi mới sinh được 1 bé trai vào cuối tháng 4 năm 2026, sau khi sinh sức khỏe tôi còn yếu, chồng tôi lại đang định cư ở nước ngoài nên không thể đi đăng ký khai sinh được, vì vậy sau khi thống nhất với chồng, tôi đã nhờ bố chồng (là ông nội của con tôi) đi đăng ký khai sinh cho cháu. Khi bố tôi đi đăng ký khai sinh thì công chức xã nơi tôi cư trú hướng dẫn bố tôi phải có giấy ủy quyền của vợ chồng tôi mới được thụ lý hồ sơ và đăng ký khai sinh. Tôi muốn hỏi hướng dẫn đó là đúng hay sai, chúng tôi có phải thực hiện không?
Trả lời:
Tại Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em”. Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số diều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định: “Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh”.
Như vậy việc công chức cấp xã hướng dẫn phải có giấy ủy quyền của vợ chồng bà cho bố chồng (là ông nội của trẻ) mới được đăng ký khai sinh là không phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch và khoản 2 Điều 2 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP nên bà không phải lập giấy ủy quyền vẫn có thể thực hiện đăng ký khai sinh khi hồ sơ đầy đủ theo quy định tại Khoản 1 Điều 16 Luật Hộ tịch. Tuy nhiên, để đảm bảo nội dung đăng ký khai sinh được chính xác về ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi sinh; đúng với nhu cầu, nguyện vọng của vợ chồng về: họ, tên, chữ đệm; quê quán; dân tộc; quốc tịch cho con (nếu có cha hoặc mẹ là người nước ngoài) thì bà cần thống nhất các nội dung đó với bố chồng trước khi đi đăng ký khai sinh cho trẻ, tránh tình trạng phải thay đổi, cải chính hộ tịch sau khi đăng ký.
2. Tình huống 2: Vợ chồng tôi đăng ký kết hôn từ năm 2005, sau 20 năm chung sống nhưng không có con nên chúng tôi đã nhận nuôi một bé trai là con của vợ chồng em trai chồng tôi, việc nuôi con nuôi được đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã nơi chúng tôi cư trú theo quy định pháp luật. Sau khi đăng ký, chúng tôi muốn thay đổi thông tin từ cha, mẹ đẻ sang thông tin của chúng tôi là cha mẹ nuôi trong Giấy khai sinh của con có được không? Đồng thời chúng tôi cũng muốn thay đổi dân tộc của con từ dân tộc “Kinh” theo dân tộc của cha, mẹ đẻ sang dân tộc “Mường” theo dân tộc của tôi để cháu được hưởng 1 số chế độ chính sách ưu đãi cho người dân tộc thiểu số có được không?
Trả lời: Căn cứ Luật Hộ tịch năm 2014, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Bộ Luật dân sự năm 2015, câu hỏi của bạn được trả lời như sau:
Thứ nhất, việc thay đổi thông tin về cha mẹ từ cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi trong Giấy khai sinh của con được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số diều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch: “Sau khi được giải quyết cho làm con nuôi, theo yêu cầu của cha, mẹ nuôi, Ủy ban nhân dân nơi đã đăng ký khai sinh trước đây hoặc nơi cư trú của con nuôi thực hiện thay đổi hộ tịch theo quy định tại Điều 26, Điều 27, Điều 28, Điều 46 Luật hộ tịch”.
Thứ hai, việc đề nghị thay đổi lại dân tộc của con nuôi theo dân tộc của mẹ nuôi là không thực hiên được vì.
Theo quy định tại Điều 29 của Bộ luật dân sự năm 2015: Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ hoặc theo dân tộc của mẹ đẻ. Trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha đẻ, mẹ đẻ; trường hợp không có thỏa thuận thì dân tộc của con được xác định theo tập quán; trường hợp tập quán khác nhau thì dân tộc của con được xác định theo tập quán của dân tộc ít người hơn. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ, khi trẻ được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì dân tộc của trẻ em được xác định theo dân tộc của cha nuôi hoặc mẹ nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì được xác định dân tộc theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em vào thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ em. Đồng thời tại Khoản 5 Điều 29 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “cấm lợi dụng việc xác định lại dân tộc nhằm mục đích trục lợi hoặc gây chia rẽ, phương hại đến sự đoàn kết của các dân tộc Việt Nam”
Như vậy, về nguyên tắc dân tộc của một người được xác định theo dân tộc của cha hoặc mẹ đẻ; việc xác định theo dân tộc của cha, mẹ nuôi chỉ thực hiện đối với trẻ bị bỏ rơi, không xác định được cha, mẹ đẻ.
3. Tình huống 3: Tôi và chồng kết hôn năm 2015, chúng tôi có 02 con chung. Năm 2016 chúng tôi sinh con đầu và đăng ký khai sinh tại UBND nơi tôi thường trú, khi đó chúng tôi chọn quê quán cho con là xã A, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo quê quán của tôi. Năm 2019, chúng tôi sinh con thứ 2 và đăng ký khai sinh tại UBND xã nơi cư trú của chồng và thống nhất chọn quê quán là xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo quê quán của chồng tôi. Khi sử dụng Giấy khai sinh của các con để tham gia các quan hệ pháp lý, dân sự liên quan thì bắt đầu phát sinh một số khó khăn, vướng mắc vì phải đối chiếu, giải thích vì sao 02 con tôi là có quê quán khác nhau cho các cơ quan, đơn vị liên quan nên chúng tôi thấy rất bất tiện. Vào tháng 4 năm 2026 chúng tôi liên hệ với UBND xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ đề nghị đổi quê quán cho con thứ 2 của chúng tôi từ “xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc” thành “xã Hoài Đức, thành phố Hà Nội” theo quê quán của tôi và thống nhất với quê quán của anh trai cháu, thì UBND xã Vĩnh Phú đã từ chối. Tôi muốn hỏi việc từ chối có đúng không?
Trả lời:
Việc vợ chồng bà lựa chọn quê quán của cha và của mẹ để đăng ký khai sinh cho 02 con là phù hợp với quy định tại Khoản 8 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2014 “Quê quán của cá nhân được xác định theo quê quán của cha hoặc mẹ theo thỏa thuận của cha, mẹ hoặc theo tập quán được ghi trong tờ khai khi đăng ký khai sinh” do đó việc 02 anh em ruột có 02 quê quán khác nhau (theo 02 quê quán của cha, mẹ đẻ) là hoàn toàn có thể xảy ra và không trái quy định pháp luật hộ tịch. Việc xác định quê quán trong Giấy khai sinh của con được thực hiện trên cơ sở đã có sự thỏa thuận, thống nhất của cha mẹ trẻ tại thời điểm đăng ký khai sinh, điều đó được thể hiện trong Tờ khai đăng ký khai sinh.
Việc vợ chồng bà đề nghị được thay đổi quê quán cho con trong Giấy khai sinh từ quê quán của bố đẻ sang quê quán của mẹ đẻ và bị UBND xã từ chối. Việc từ chối là phù hợp với quy định tại Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014 về phạm vị thay đổi hộ tịch. Cụ thể, phạm vị thay đổi hộ tịch gồm:
1. Thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự.
2. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.”. Như vậy, việc thay đổi hộ tịch chỉ bao gồm thay đổi họ, chữ đệm, tên của cá nhân hoặc thay đổi thông tin về cha, mẹ từ cha mẹ đẻ sang cha mẹ nuôi, không bao gồm yêu cầu thay đổi về quê quán.
Mai Phương – Phòng HCTP