Trong đời sống cộng đồng, không phải mọi mâu thuẫn đều cần đưa ra Tòa án để giải quyết. Nhiều tranh chấp, xung đột có thể được tháo gỡ ngay từ cơ sở – nơi gần dân nhất, hiểu dân nhất – thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Trải qua hơn một thập kỷ triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, công tác hòa giải ở cơ sở đã trở thành “van điều tiết” quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn ngay từ cộng đồng, góp phần giữ gìn sự ổn định xã hội từ gốc. Tuy nhiên, trước những biến động ngày càng phức tạp của đời sống xã hội, nhiều hạn chế cũng dần bộc lộ, từ chất lượng đội ngũ hòa giải viên, cơ chế vận hành cho đến giá trị pháp lý của kết quả hòa giải.
Chính từ yêu cầu thực tiễn đó, dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) được xây dựng với mục tiêu hoàn thiện toàn diện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa giải trong giai đoạn mới. Dự thảo tập trung vào 05 nhóm chính sách trọng tâm nhằm tháo gỡ những nút thắt về cơ chế và công nghệ.
Để các chính sách đi vào thực tiễn, làm rõ và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong toàn bộ hệ thống, từ Trung ương đến địa phương trong công tác hòa giải ở cơ sở, đảm bảo phù hợp trong bối cảnh hực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền như hiện nay, ngày 10/6/2026 Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phối hợp với Báo Pháp luật Việt Nam tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Hòa giải ở cơ sở - Kỳ vọng từ những chính sách mới”.

Tham gia tọa đàm trực tuyến có TS. Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp và Bà Đỗ Thúy Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ.
Tại buổi tọa đàm cùng thảo luận về những điểm mới mang tính đột phá của dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) qua góc nhìn của đại diện địa phương, Bà Đỗ Thúy Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ đã có những chia sẻ với Phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam, cụ thể:
PV: Từ thực tiễn địa phương, bà đánh giá điểm nghẽn lớn nhất trong thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở hiện nay là gì? Bà kỳ vọng gì vào dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi)?
Bà Đỗ Thúy Vân: Có một câu hỏi mà từ thực tiễn địa phương tôi luôn trăn trở, chúng ta đều khẳng định hòa giải ở cơ sở là thiết chế rất quan trọng, giải quyết mâu thuẫn từ sớm, từ xa; góp phần giảm tải cho Tòa án, cho chính quyền cơ sở. Nhưng chúng ta đã thực sự đầu tư cho thiết chế này tương xứng với vai trò của nó chưa?
Từ thực tiễn Phú Thọ, hơn 10 năm triển khai Luật, Hòa giải hàng chục nghìn vụ việc, Tỷ lệ hòa giải thành rất cao. Đặt một giả thiết rất đơn giản, nếu những vụ việc hòa giải thành đó không được giải quyết ở cơ sở thì sẽ đi đâu? Khiếu nại? Tố cáo? UBND cấp xã? Cơ quan hành chính? Tòa án? Thậm chí phát sinh mâu thuẫn kéo dài trong cộng đồng. => Chi phí xã hội sẽ rất lớn.
Vì vậy, Đầu tư cho hòa giải ở cơ sở không phải là tăng chi ngân sách đơn thuần. Mà là: đầu tư để giảm những chi phí xã hội lớn hơn trong tương lai.
Qua thực tiễn địa phương, chúng tôi thấy: Nhiều tổ hòa giải hoạt động chủ yếu bằng tinh thần trách nhiệm; nhiều hòa giải viên không có thù lao theo vụ việc; kinh phí tập huấn, cập nhật kiến thức còn hạn chế; công tác số hóa, ứng dụng công nghệ còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, yêu cầu đối với hòa giải viên ngày càng cao. Đây là điều rất đáng suy nghĩ.
Kỳ vọng với Luật sửa đổi, tôi rất đồng tình với định hướng hoàn thiện Luật lần này. Từ thực tiễn địa phương, chúng tôi kỳ vọng Luật sẽ tiếp tục quan tâm hơn đến các điều kiện bảo đảm để công tác hòa giải phát huy hiệu quả thông qua cơ chế tài chính đủ rõ, đủ ổn định và đủ linh hoạt để địa phương chủ động tổ chức thực hiện, có cấu trúc chi phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ.
Có thể nghiên cứu theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm bảo đảm kinh phí của ngân sách địa phương; xác lập nguyên tắc về mức bảo đảm tối thiểu cho hoạt động hòa giải ở cơ sở; thiết kế cơ cấu kinh phí theo các nhóm nhiệm vụ riêng biệt, bao gồm: kinh phí duy trì hoạt động thường xuyên của tổ hòa giải; kinh phí hỗ trợ trực tiếp theo vụ việc hòa giải; kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức; kinh phí phục vụ chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin; có cơ chế ưu tiên hoặc hỗ trợ phù hợp đối với địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Nhằm động viên hòa giải viên yên tâm cống hiến.
Qua thực tiễn địa phương, chúng tôi nhận thấy hòa giải ở cơ sở tiết kiệm rất nhiều chi phí xã hội. Vì vậy, chúng tôi mong muốn Luật sửa đổi sẽ tiếp tục quan tâm đến việc đầu tư cho thiết chế phòng ngừa tranh chấp này, để mỗi vụ việc được giải quyết thành công ở cơ sở sẽ là một vụ việc không phải chuyển đến các cơ quan nhà nước khác.
PV: Đội ngũ hòa giải viên là nhân tố quyết định chất lượng của công tác hòa giải ở cơ sở. Theo bà, Luật sửa đổi cần quan tâm những vấn đề gì để xây dựng và phát triển đội ngũ hòa giải viên trong giai đoạn mới?
Bà Đỗ Thúy Vân: Qua thực tiễn triển khai tại địa phương, nhận thấy một trong những yếu tố quyết định thành công của công tác hòa giải không phải là hồ sơ hay quy trình, mà chính là đội ngũ hòa giải viên. Nhiều vụ việc thành công không chỉ vì áp dụng đúng pháp luật, mà còn bởi hòa giải viên có uy tín, có kinh nghiệm sống và có khả năng thuyết phục.
Qua hơn 10 năm thi hành Luật cho thấy Đội ngũ hòa giải viên là một nguồn lực xã hội rất đáng trân trọng, đã có những đóng góp rất lớn. Phần lớn họ là những người có uy tín trong cộng đồng, nhiều người đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết để giải quyết các mâu thuẫn phát sinh ở cơ sở.
Nhưng thực tiễn cũng đạt ra câu hỏi xã hội đang thay đổi. Các tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp hơn. Yêu cầu đối với hòa giải viên cũng ngày càng cao hơn. Trong khi đó nhiều hòa giải viên lớn tuổi; lực lượng kế cận chưa nhiều; người trẻ tham gia còn hạn chế; nguồn nhân lực có kiến thức pháp luật, kỹ năng công nghệ chưa được huy động đầy đủ.
Sau những hòa giải viên tâm huyết hôm nay, ai sẽ tiếp tục giữ lửa cho công tác hòa giải ở cơ sở trong 10 năm tới? Theo tôi, việc sửa đổi Luật lần này không chỉ là hoàn thiện quy định về hòa giải viên, mà còn phải có quy định để xây dựng đội ngũ HGV cho tương lai.
Từ thực tiễn địa phương, chúng tôi kỳ vọng Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ tiếp tục quan tâm hơn đến công tác bồi dưỡng, cập nhật kiến thức và kỹ năng cho hòa giải viên; Khuyến khích xây dựng đội ngũ hòa giải viên nòng cốt để hỗ trợ những vụ việc phức tạp; Tạo điều kiện để huy động thêm các nguồn lực xã hội như: luật gia; luật sư; người từng công tác trong các cơ quan tư pháp; người có chuyên môn phù hợp; Có những cơ chế phù hợp để thu hút và tạo động lực cho lực lượng kế cận, đặc biệt là những người trẻ có năng lực.
Qua thực tiễn địa phương, chúng tôi thấy rằng các hòa giải viên hôm nay đã làm rất tốt vai trò của mình. Nhưng điều chúng tôi trăn trở là làm sao để 10 năm nữa, ở mỗi khu dân cư, mỗi thôn, mỗi tổ dân phố vẫn có những người đủ uy tín, đủ kỹ năng và đủ tâm huyết để tiếp tục giữ gìn sự bình yên của cộng đồng.
PV: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, theo bà cần làm gì để công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ hiệu quả cho hòa giải viên mà vẫn giữ được bản chất nhân văn của hòa giải ở cơ sở?
Bà Đỗ Thúy Vân: Qua thực tiễn ở địa phương Hòa giải ở cơ sở là một hoạt động rất đặc biệt. Đó là: gặp gỡ; lắng nghe; chia sẻ; thuyết phục; xây dựng niềm tin. Những giá trị đó không thể thay thế bằng máy móc hay công nghệ. Nhưng thực tiễn đang thay đổi ngày nay, hòa giải viên không chỉ đối diện với những mâu thuẫn đơn giản. Nhiều vụ việc liên quan: đất đai; thừa kế; hôn nhân gia đình; môi trường; kinh doanh; không gian mạng…Đòi hỏi phải cập nhật pháp luật thường xuyên. Trong khi đó, đa số hòa giải viên hoạt động kiêm nhiệm. Không phải lúc nào cũng có điều kiện tiếp cận tài liệu hoặc được hỗ trợ chuyên môn kịp thời.
Từ thực tiễn đó đặt ra câu hỏi làm thế nào để công nghệ có thể hỗ trợ hòa giải viên mà vẫn giữ được bản chất nhân văn của hòa giải ở cơ sở, đây cũng là một nội dung rất đáng quan tâm trong quá trình sửa đổi Luật.
Chuyển đổi số là để hỗ trợ hòa giải viên; hỗ trợ người dân; hỗ trợ công tác quản lý. Từ thực tiễn địa phương, chúng tôi kỳ vọng:
Một là, xây dựng hệ thống tài liệu điện tử để hòa giải viên dễ dàng tra cứu.
Hai là, số hóa các mẫu biểu, hồ sơ, thống kê để giảm công việc hành chính.
Ba là, từng bước xây dựng cơ sở dữ liệu, chia sẻ kinh nghiệm, mô hình hay, vụ việc điển hình.
Bốn là, ứng dụng công nghệ theo lộ trình phù hợp, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương và đặc điểm của đội ngũ hòa giải viên.
Điều làm nên thành công của hòa giải ở cơ sở vẫn luôn là sự chân thành, sự thấu hiểu và uy tín của hòa giải viên. Chúng tôi kỳ vọng công nghệ sẽ trở thành người bạn đồng hành để những giá trị đó được phát huy tốt hơn.
Người hòa giải viên có đang được một hệ thống pháp luật và một hệ thống xã hội hỗ trợ hay vẫn chủ yếu dựa vào uy tín và kinh nghiệm của chính mình? Câu hỏi này cần có 1 câu trả lời: công nghệ, CSDL là một người bạn; chuyên gia pháp luật là một người bạn; mạng lưới hỗ trợ là một người bạn.
Chúng tôi kỳ vọng Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) sẽ tạo dựng nên mạng lưới, hệ thống đó để giúp đội ngũ hòa giải viên không đơn độc.
Qua cuộc trao đổi của Phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam với TS. Ngô Quỳnh Hoa và Bà Đỗ Thúy Vân có thể thấy dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) không chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện quy định pháp luật, mà còn thể hiện một bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý và tổ chức thực hiện.
Phan Bích - Phòng PBGDPL