1. Tình huống: Ông bà Long có con đẻ là anh Nguyên và con nuôi là chị Thủy. Ông bà Long nhận chị Thủy về nuôi từ lúc chị Thủy 08 tuổi (đã được Uỷ ban nhân dân xã cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi). Sau khi ông bà Long chết (không để lại di chúc), chị Thủy yêu cầu chia thừa kế tài sản của ông bà Long. Anh Nguyên không đồng ý vì cho rằng chị Thủy là con nuôi, không có quyền hưởng thừa kế. Đồng thời anh Nguyên đã có hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của chị Thủy nhằm mục đích để chị Thủy từ bỏ quyền được thừa kế của mình. Vậy theo quy định của pháp luật, chị Thủy có quyền được thừa kế tại sản do cha mẹ để lại không? Và hành vi của anh Nguyên có bị xử lý theo quy định của pháp luật không?
Giải quyết tình huống:
Theo quy định tại các Điều 650, 651, 653 Bộ luật Dân sự năm 2015, dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quan hệ hôn nhân và gia đình, pháp luật quy định những người thừa kế cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau mà không phân biệt con đẻ, con nuôi. Cụ thể như sau:
- Khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây: Không có di chúc; Di chúc không hợp pháp; Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”.
- Điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”
- Điều 653 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quan hệ thừa kế giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”
Như vậy theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, chị Thủy hoàn toàn có quyền được thừa kế tài sản của ông bà Long. Việc anh Nguyên cho rằng em gái là do bố mẹ nhận nuôi, mình là con ruột do bố mẹ đẻ ra nên được quyền thừa kế toàn bộ tài sản do bố mẹ để lại là không đúng quy định của pháp luật. Tài sản của bố mẹ để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật. Chị Thủy là con nuôi hợp pháp bởi đã được UBND xã cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi- là người thừa kế cùng hàng với anh Nguyên. Cả 2 anh em sẽ được hưởng phần di sản do bố mẹ để lại là như nhau.
Bên cạnh đó căn cứ quy định tại Điều 39 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình quy định về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình: “1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. 2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.3. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc xin lỗi công khai khi người bị bạo lực gia đình có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi vi phạm; b) Buộc thu hồi tư liệu, tài liệu, tờ rơi, bài viết, hình ảnh đối với hành vi vi phạm”
Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”
Theo quy định nêu trên, hành vi của anh Nguyên còn bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác, nếu ở mức độ nghiêm trong hơn thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Tình huống: Vợ chồng bà Hương và ông Tiến sinh được 03 người con là chị Nhung, anh Đức, anh Hải. Khi tuổi cao, sức yếu ông Tiến đã lập di chúc, nhưng không công chứng, chứng thực. Di chúc này do ông Tiến viết tay với nội dung là nếu ông chết trước thì bà Hương sẽ quản lý di chúc và quản lý sử dụng toàn bộ tài sản chung của vợ chồng. Khi bà Hương chết sẽ giao lại cho anh Đức quản lý, sử dụng. Ông Tiến viết di chúc khi hoàn toàn khỏe mạnh, minh mẫn, không bị ai ép buộc. Sau khi ông Tiến chết, bà Hương họp các con để công bố di chúc. Anh Hải, chị Nhung cho rằng di chúc không được công chứng, chứng thực là di chúc không hợp pháp, yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật. Theo quy định của pháp luật Di chúc của ông Tiến có phải là Di chúc hợp pháp không? Việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật của anh Hải, chị Nhung có đúng theo quy định của pháp luật không?
Giải quyết tình huống:
Việc ông Tiến lập di chúc là đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, được quy định tại các Điều 627, 628, 630, 633 Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể như sau:
- Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hình thức của di chúc: “Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng”
- Điều 628 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về “Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có công chứng; di chúc bằng văn bản có chứng thực”
- Khoản 1 và khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép; b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật”. 4. “Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này”.
- Điều 633 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Người lập di chúc phải tự viết và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại Điều 631 của Bộ luật này”.
Đối chiếu theo các quy định nêu trên của Bộ luật dân sự năm 2015, dù di chúc ông Tiến viết tay, không được công chứng, chứng thực nhưng vẫn đảm bảo hợp pháp: vì khi viết hoàn toàn minh mẫn, không bị ép buộc, lừa dối đe dọa, đảm bảo hình thức bằng văn bản. Bên cạnh đó, nội dung di chúc là phân chia tài sản cho các con nên không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó Di chúc của ông Tiến là Di chúc hợp pháp.
Bên cạnh đó việc anh Hải, chị Nhung yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật là không đúng với quy định của pháp luật, căn cứ tại khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật: “1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây: a) Không có di chúc; b) Di chúc không hợp pháp; c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản”. Với tình huống trên thì Di chúc của ông Tiến là Di chúc hợp pháp, do vậy phải chia thừa kế theo Di chúc cho anh hải, chị Nhung, anh Đức đảm bảo ý chí, mong muốn của người để lại di chúc và trình tự, thủ tục của pháp luật.
Thu Hiền – Phòng PBGDPL