Đỗ Thúy Vân – Phó Giám đốc Sở Tư pháp
Sau hơn mười hai năm thi hành, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã khẳng định tính đúng đắn của chủ trương giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cộng đồng dân cư. Với những nguyên tắc đề cao sự tự nguyện, thỏa thuận và phát huy vai trò của cộng đồng, Luật đã tạo dựng được một thiết chế hòa giải ở cơ sở gần dân, linh hoạt, nhân văn và hiệu quả. Thực tiễn cho thấy, hàng trăm nghìn vụ việc được hòa giải thành trên phạm vi cả nước đã góp phần hạn chế khiếu kiện, giảm áp lực cho các cơ quan tư pháp, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng dân cư và củng cố niềm tin của người dân vào khả năng giải quyết mâu thuẫn ngay từ cơ sở.
Tại tỉnh Phú Thọ, cùng với nhiều địa phương trong cả nước, hoạt động hòa giải ở cơ sở đã trở thành một trong những công cụ quan trọng để phòng ngừa tranh chấp, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống xã hội. Những kết quả đạt được trong nhiều năm qua tiếp tục khẳng định giá trị thực tiễn của thiết chế hòa giải ở cơ sở, đồng thời cũng cho thấy đây là một phương thức quản trị xã hội hiệu quả, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền từ cơ sở.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới của đất nước đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở. Các quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, tranh chấp ngày càng phức tạp; yêu cầu chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và xây dựng nền tư pháp hiện đại đòi hỏi thiết chế hòa giải ở cơ sở không chỉ tiếp tục được duy trì mà còn phải được hoàn thiện để phát huy tốt hơn vai trò của mình.
Thực tiễn tổng kết thi hành Luật cho thấy, những khó khăn hiện nay không còn chủ yếu nằm ở tinh thần trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên hay tính đúng đắn của mô hình hòa giải ở cơ sở, mà tập trung ở các cơ chế bảo đảm để thiết chế này vận hành hiệu quả và phát triển bền vững. Đây cũng chính là vấn đề trọng tâm mà dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Từ thực tiễn quản lý nhà nước và tổ chức thi hành Luật tại địa phương, chúng tôi đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện các cơ chế bảo đảm về nguồn lực tài chính, giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành, phát triển đội ngũ hòa giải viên và chuyển đổi số, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở trong giai đoạn mới.
1. Đổi mới cơ chế bảo đảm nguồn lực tài chính - đầu tư cho hòa giải ở cơ sở chính là đầu tư cho phòng ngừa tranh chấp
Trong hơn mười hai năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, kinh phí luôn được xác định là một trong những khó khăn lớn nhất của hoạt động hòa giải. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận vấn đề ở góc độ mức hỗ trợ còn thấp thì chưa phản ánh đầy đủ bản chất của thực tiễn. Qua tổng kết thi hành Luật tại Trung ương và nhiều địa phương cho thấy, điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở quy mô nguồn kinh phí, mà chủ yếu nằm ở cơ chế bảo đảm để nguồn kinh phí đó thực sự được bố trí và sử dụng cho hoạt động hòa giải ở cơ sở.
Hiện nay, pháp luật đã có những quy định tương đối đầy đủ về nội dung chi và mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở; nhiều địa phương cũng đã ban hành nghị quyết quy định mức hỗ trợ cụ thể đối với hòa giải viên. Tuy nhiên, quy định được phép chi không đồng nghĩa với việc trên thực tế có kinh phí để chi. Thực tiễn tổng kết thi hành Luật tại nhiều địa phương, trong đó có Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình (trước sáp nhập), cho thấy kinh phí dành cho hòa giải ở cơ sở chủ yếu được lồng ghép trong dự toán kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật; nhiều địa phương chưa xây dựng dự toán riêng hoặc không cân đối được nguồn kinh phí để thực hiện các chế độ hỗ trợ đã được quy định. Điều này dẫn đến tình trạng chính sách đã có nhưng khó đi vào cuộc sống; nhiều hòa giải viên nhiều năm tham gia giải quyết các vụ việc nhưng hầu như chưa được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định.
Thực tiễn tại tỉnh Phú Thọ cho thấy, cùng với việc thực hiện chủ trương kiện toàn tổ chức bộ máy ở cơ sở, Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết quy định chế độ phụ cấp, hỗ trợ thường xuyên đối với các lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ ở cộng đồng dân cư. Theo đó, nhiều chức danh như Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận được hưởng phụ cấp hằng tháng; Thôn đội trưởng, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, nhân viên y tế tổ dân phố, cộng tác viên dân số... cũng được hưởng các chế độ hỗ trợ hoặc bồi dưỡng thường xuyên từ ngân sách địa phương. Điều này thể hiện sự quan tâm của tỉnh trong việc bảo đảm điều kiện hoạt động đối với các lực lượng thực hiện nhiệm vụ ở cơ sở.
Trong khi đó, hòa giải viên - lực lượng trực tiếp tham gia giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cơ sở, góp phần hạn chế khiếu kiện, giảm áp lực cho Tòa án và các cơ quan nhà nước - lại chủ yếu chỉ được hỗ trợ theo từng vụ việc theo quy định hiện hành. Đáng lưu ý hơn, kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở hiện vẫn chủ yếu được lồng ghép trong kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật; vì vậy, ở nhiều địa phương, ngay cả khoản hỗ trợ theo vụ việc cũng chưa được bố trí hoặc chưa thực hiện đầy đủ.
Từ góc độ quản trị nhà nước, chi cho hòa giải ở cơ sở không nên được nhìn nhận đơn thuần là khoản chi cho một hoạt động xã hội, mà cần được xem là đầu tư cho năng lực phòng ngừa tranh chấp của Nhà nước. Mỗi vụ việc được hòa giải thành không chỉ giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí theo đuổi tố tụng mà còn góp phần giảm áp lực cho Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, chính quyền cơ sở và các cơ quan quản lý nhà nước; quan trọng hơn, hòa giải thành giúp giữ gìn sự ổn định, đồng thuận trong cộng đồng dân cư - một giá trị mà không một bản án hay quyết định hành chính nào có thể thay thế.
Chính vì vậy, dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng xác lập rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm nguồn lực cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, đồng thời thiết kế cơ chế để kinh phí hòa giải được quan tâm ngay từ khâu lập và phân bổ dự toán ngân sách hằng năm, tránh tình trạng bị lồng ghép hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật như hiện nay. Bên cạnh đó, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ hòa giải viên theo hướng phù hợp với tính chất, yêu cầu của hoạt động hòa giải và điều kiện ngân sách của Nhà nước.
2. Hoàn thiện cơ chế liên thông giữa hòa giải ở cơ sở và thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án - Bảo đảm kết quả hòa giải được thực hiện đến cùng
Một trong những giá trị cốt lõi của hòa giải ở cơ sở là giúp các bên giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp trên cơ sở tự nguyện, đồng thuận và gìn giữ các mối quan hệ xã hội. Thực tiễn hơn mười hai năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở cho thấy, phần lớn các vụ việc sau khi hòa giải thành đều được các bên tự nguyện thực hiện, góp phần giải quyết tranh chấp ngay từ cơ sở và hạn chế phát sinh khiếu kiện.
Tuy nhiên, đối với những vụ việc liên quan đến nghĩa vụ tài sản hoặc các quyền, nghĩa vụ dân sự cần được bảo đảm thực hiện, kết quả hòa giải thành mới chỉ dừng lại ở sự thỏa thuận giữa các bên nếu không được tiếp tục bảo đảm bằng cơ chế pháp lý phù hợp. Trường hợp một bên không thực hiện cam kết, thì đối với những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bên còn lại vẫn phải khởi kiện theo trình tự tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Điều đó đồng nghĩa với việc tranh chấp phải được giải quyết lại theo trình tự tố tụng, mặc dù trước đó các bên đã đạt được sự thống nhất thông qua hòa giải ở cơ sở.
Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng dân sự đã thiết lập cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án nhằm tạo cầu nối giữa hòa giải và cơ chế bảo đảm thực hiện của Nhà nước. Khi kết quả hòa giải thành được Tòa án công nhận theo quy định của pháp luật, trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thì bên còn lại có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành theo quy định. Có thể thấy, điểm khác biệt không nằm ở giá trị của thỏa thuận hòa giải, mà ở cơ chế pháp lý bảo đảm để thỏa thuận đó được thực hiện khi phát sinh vi phạm.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy cơ chế này vẫn chưa được khai thác và sử dụng phổ biến. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở của Bộ Tư pháp, trong gần mười năm thực hiện quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, trên phạm vi cả nước chỉ có 170 trường hợp yêu cầu Tòa án công nhận, trong đó có 168 trường hợp được chấp nhận. Con số này cho thấy, đối với các hồ sơ được gửi đến Tòa án, việc công nhận hầu như không gặp vướng mắc đáng kể; vấn đề đặt ra không nằm ở thủ tục công nhận của Tòa án, mà ở việc cơ chế này chưa trở thành một bước tiếp nối tự nhiên trong quá trình giải quyết tranh chấp ở cơ sở.
Thực tiễn tổng kết tại 3 tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình (trước sáp nhập) cũng phản ánh xu hướng tương tự. Hàng chục nghìn vụ việc được hòa giải thành trong nhiều năm qua đã góp phần giải quyết hiệu quả các mâu thuẫn ngay từ cơ sở, nhưng các báo cáo tổng kết chưa phản ánh việc sử dụng thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành như một giải pháp thường xuyên đối với những vụ việc có nhu cầu bảo đảm thực hiện. Điều này cho thấy khoảng cách giữa thiết chế hòa giải ở cơ sở với thiết chế tố tụng dân sự vẫn còn khá lớn, làm giảm khả năng phát huy đầy đủ giá trị của kết quả hòa giải thành trong một số trường hợp.
Theo chúng tôi, nguyên nhân của thực trạng trên không xuất phát từ bản thân thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án, mà chủ yếu do chưa hình thành cơ chế liên thông giữa hoạt động hòa giải ở cơ sở với thủ tục này.
Thứ nhất, Luật Hòa giải ở cơ sở hiện nay mới tập trung điều chỉnh trình tự, thủ tục hòa giải và lập biên bản hòa giải thành, nhưng chưa thể hiện rõ sự kết nối với cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Sau khi hòa giải thành, hoạt động hòa giải trên thực tế gần như kết thúc mà chưa có cơ chế để định hướng các bên tiếp cận thủ tục công nhận trong những trường hợp cần thiết.
Thứ hai, pháp luật hiện hành chưa xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Hòa giải viên, công chức tư pháp - hộ tịch và UBND cấp xã hiện chưa có trách nhiệm hoặc quy trình phối hợp cụ thể để tư vấn, hỗ trợ các bên hoàn thiện hồ sơ khi có nhu cầu.
Thứ ba, mẫu biên bản hòa giải thành và các tài liệu trong hồ sơ hòa giải hiện chủ yếu phục vụ hoạt động hòa giải ở cơ sở, chưa được chuẩn hóa theo hướng tạo thuận lợi cho việc sử dụng trong thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận; đồng thời cũng chưa có cơ chế phối hợp, chuyển tiếp hồ sơ giữa tổ hòa giải, UBND cấp xã và Tòa án.
Từ thực tiễn nêu trên, chúng tôi cho rằng dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng thiết lập cơ chế liên thông giữa hòa giải ở cơ sở và thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án. Theo đó, cần bổ sung nguyên tắc kết nối giữa Luật Hòa giải ở cơ sở và Bộ luật Tố tụng dân sự; quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc hướng dẫn, hỗ trợ người dân tiếp cận cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành khi có nhu cầu; đồng thời giao Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan quy định cụ thể về trình tự phối hợp, chuẩn hóa biểu mẫu, hồ sơ và cơ chế chuyển tiếp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong quá trình thực hiện quyền của mình.
Nếu Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã thành công trong việc tạo dựng cơ chế giải quyết tranh chấp bằng sự đồng thuận thì Luật sửa đổi lần này cần tiến thêm một bước, đó là thiết lập cơ chế để những kết quả hòa giải thành, trong trường hợp cần thiết, được chuyển tiếp thuận lợi sang cơ chế bảo đảm thực hiện của Nhà nước. Chỉ khi kết quả hòa giải không chỉ được tôn trọng bằng thiện chí mà còn được bảo đảm bằng cơ chế pháp lý phù hợp, thiết chế hòa giải ở cơ sở mới thực sự phát huy đầy đủ vai trò là phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng trong Nhà nước pháp quyền.
3. Hoàn thiện chính sách phát triển đội ngũ hòa giải viên - Bảo đảm tính bền vững của thiết chế hòa giải ở cơ sở
Qua hơn mười hai năm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, đội ngũ hòa giải viên đã khẳng định vai trò là lực lượng nòng cốt trong việc giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp ngay từ cộng đồng dân cư. Với uy tín trong xã hội, sự am hiểu phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương và kinh nghiệm thực tiễn phong phú, các hòa giải viên đã góp phần giải quyết thành công hàng trăm nghìn vụ việc trên phạm vi cả nước, giữ gìn đoàn kết trong cộng đồng, hạn chế phát sinh khiếu kiện và giảm áp lực cho các cơ quan tư pháp. Có thể khẳng định, chất lượng của hoạt động hòa giải ở cơ sở trước hết được quyết định bởi chất lượng của đội ngũ hòa giải viên.
Tuy nhiên, thực tiễn tổng kết thi hành Luật của Bộ Tư pháp cũng như của nhiều địa phương cho thấy, sự phát triển của đội ngũ hòa giải viên hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào uy tín cá nhân, tinh thần trách nhiệm và sự tự nguyện của mỗi hòa giải viên, trong khi cơ chế phát triển đội ngũ một cách ổn định và bền vững vẫn chưa được thiết lập đầy đủ.
Một đặc điểm dễ nhận thấy là phần lớn hòa giải viên có nhiều kinh nghiệm đồng thời cũng là những người đang hoặc đã từng đảm nhiệm các vị trí có uy tín trong cộng đồng như Bí thư chi bộ, Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố, Trưởng Ban công tác Mặt trận, hội viên các tổ chức chính trị - xã hội hoặc người có uy tín tại địa phương. Chính uy tín xã hội, vốn sống và khả năng thuyết phục của họ là yếu tố quan trọng tạo nên thành công của hoạt động hòa giải trong thời gian qua.
Tuy nhiên, điểm mạnh này cũng đang đặt ra một thách thức mới đối với sự phát triển lâu dài của thiết chế hòa giải ở cơ sở. Khi chất lượng hoạt động hòa giải phụ thuộc quá nhiều vào uy tín và kinh nghiệm của từng cá nhân, trong khi pháp luật chưa có cơ chế đủ mạnh để phát hiện, đào tạo, thu hút và chuẩn bị đội ngũ kế cận, thì nguy cơ thiếu hụt nguồn hòa giải viên có chất lượng trong tương lai là điều cần được tính đến ngay từ quá trình sửa đổi Luật.
Thực tiễn cũng cho thấy, phần lớn hòa giải viên hiện nay hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm; nhiều người ở độ tuổi cao, trong khi việc thu hút những người trẻ, có kiến thức pháp luật, kỹ năng xã hội và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin tham gia hoạt động hòa giải còn gặp nhiều khó khăn. Công tác đào tạo, bồi dưỡng tuy được quan tâm nhưng chủ yếu tập trung vào cập nhật kiến thức pháp luật, chưa hình thành được cơ chế phát triển đội ngũ theo hướng lâu dài, có tính kế thừa và thích ứng với những dạng tranh chấp mới phát sinh trong đời sống xã hội.
Có thể thấy, điểm nghẽn hiện nay không đơn thuần là vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ, mà là thiếu một chính sách phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động hòa giải ở cơ sở. Tập huấn chỉ giúp nâng cao năng lực của đội ngũ hiện có, nhưng không giải quyết được bài toán tạo nguồn, duy trì và phát triển đội ngũ trong dài hạn. Nếu không có cơ chế phù hợp, khi lớp hòa giải viên giàu kinh nghiệm dần thay đổi, rất khó bảo đảm chất lượng của thiết chế hòa giải trong những năm tới.
Từ góc độ quản lý nhà nước, việc phát triển đội ngũ hòa giải viên cần được nhìn nhận không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng dân cư mà còn là một nhiệm vụ của Nhà nước trong xây dựng thiết chế phòng ngừa, giải quyết tranh chấp từ sớm, từ cơ sở. Vì vậy, dự thảo Luật cần chuyển từ tư duy quản lý đội ngũ hòa giải viên sang tư duy phát triển đội ngũ hòa giải viên.
Theo đó, cần nghiên cứu bổ sung các quy định theo hướng xác lập trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ hòa giải viên; có chính sách phát hiện, tạo nguồn và bồi dưỡng đội ngũ kế cận; tăng cường đào tạo theo hướng chuyên sâu về kỹ năng hòa giải, kiến thức pháp luật và kỹ năng xử lý các dạng tranh chấp mới; đồng thời giao Chính phủ quy định cụ thể về cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, tôn vinh, động viên và xây dựng cơ sở dữ liệu về hòa giải viên nhằm phục vụ công tác quản lý, sử dụng và phát triển đội ngũ trên phạm vi cả nước.
Nếu Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã tạo dựng được đội ngũ hòa giải viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn đầu thì Luật sửa đổi lần này cần tạo dựng cơ chế để đội ngũ đó tiếp tục được phát triển một cách ổn định, chuyên nghiệp và bền vững. Bởi lẽ, đầu tư cho hòa giải viên không chỉ là đầu tư cho một lực lượng thực hiện công tác hòa giải, mà chính là đầu tư cho năng lực phòng ngừa tranh chấp, củng cố sự đồng thuận xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền từ cơ sở.
4. Thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động hòa giải ở cơ sở - Xây dựng hạ tầng tri thức số hỗ trợ hòa giải viên
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia đang làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, giá trị của chuyển đổi số đối với hoạt động hòa giải không nằm ở việc thay thế vai trò của hòa giải viên bằng công nghệ, mà ở việc tạo ra những công cụ hỗ trợ để hòa giải viên thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.
Thực tiễn cho thấy, phần lớn hòa giải viên hiện nay đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, nhiều người ở độ tuổi cao, điều kiện tiếp cận công nghệ thông tin và cập nhật kiến thức pháp luật còn hạn chế. Trong khi đó, hệ thống pháp luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung; nhiều dạng tranh chấp mới liên quan đến giao dịch điện tử, mạng xã hội, dữ liệu cá nhân, thương mại điện tử... ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở cơ sở. Việc cập nhật văn bản pháp luật, tiếp cận các tình huống hòa giải điển hình hay trao đổi kinh nghiệm hiện vẫn chủ yếu thông qua các lớp tập huấn trực tiếp, chưa đáp ứng kịp yêu cầu của thực tiễn.
Có thể thấy, điểm nghẽn hiện nay không phải là hòa giải viên thiếu trách nhiệm, mà là thiếu các công cụ hỗ trợ để hòa giải viên có thể tiếp cận nhanh chóng, thuận tiện và thường xuyên với tri thức pháp luật và nghiệp vụ hòa giải.
Vì vậy, chuyển đổi số trong hoạt động hòa giải ở cơ sở cần được định hướng theo mục tiêu xây dựng hạ tầng tri thức số phục vụ hòa giải viên. Đây không chỉ là cơ sở dữ liệu quản lý nhà nước, mà quan trọng hơn là hệ thống hỗ trợ nghiệp vụ để mỗi hòa giải viên, dù ở vùng sâu, vùng xa hay ở bất kỳ độ tuổi nào, đều có thể dễ dàng tra cứu, học tập và cập nhật kiến thức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Từ yêu cầu đó, dự thảo Luật cần bổ sung quy định mang tính nguyên tắc, tạo cơ sở pháp lý để xây dựng ngân hàng tình huống hòa giải, kho tài liệu nghiệp vụ điện tử, cơ sở dữ liệu cập nhật văn bản pháp luật, hệ thống hỏi - đáp nghiệp vụ, chương trình bồi dưỡng trực tuyến và từng bước hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về hòa giải ở cơ sở. Đây sẽ là "hạ tầng tri thức số" giúp hòa giải viên được hỗ trợ thường xuyên, kịp thời và thống nhất trong việc tiếp cận pháp luật, xử lý các tình huống phát sinh và nâng cao kỹ năng hòa giải mà không phụ thuộc hoàn toàn vào các lớp tập huấn định kỳ.
Đồng thời, việc xây dựng cơ sở dữ liệu về tổ hòa giải, hòa giải viên và kết quả hòa giải cũng sẽ tạo điều kiện để các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, đánh giá thực chất chất lượng hoạt động hòa giải, phục vụ công tác thống kê, dự báo và hoạch định chính sách trên cơ sở dữ liệu số.
Chuyển đổi số sẽ không làm thay đổi bản chất của hòa giải ở cơ sở - một hoạt động dựa trên sự thấu hiểu, uy tín và khả năng thuyết phục của con người. Nhưng công nghệ hoàn toàn có thể trở thành "người trợ lý nghiệp vụ" của hòa giải viên, giúp họ tự tin hơn khi giải quyết những tranh chấp ngày càng đa dạng, phức tạp trong đời sống xã hội. Đó cũng là hướng đi cần được thể chế hóa trong Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) để thiết chế hòa giải ở cơ sở phát triển hiện đại hơn, chuyên nghiệp hơn và đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị xã hội trong giai đoạn mới.
Một đạo luật được sửa đổi thành công không chỉ ở việc bổ sung thêm các quy định mới, mà quan trọng hơn là ở chỗ giải quyết được những khoảng trống mà thực tiễn đã chỉ ra. Đối với Luật Hòa giải ở cơ sở, khoảng trống lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc khẳng định vai trò của hòa giải, mà ở việc hoàn thiện các cơ chế bảo đảm để thiết chế này phát huy đầy đủ giá trị trong giai đoạn phát triển mới của đất nước. Khi những cơ chế bảo đảm đó được thiết lập đầy đủ và đồng bộ, hòa giải ở cơ sở sẽ tiếp tục là "tuyến phòng ngừa tranh chấp đầu tiên", góp phần xây dựng một xã hội đồng thuận hơn, một nền tư pháp nhân văn hơn và một Nhà nước pháp quyền vững mạnh hơn./.