Tình huống: Ông Đ, trú tại thôn 3, xã Bình Xuyên, tỉnh Phú Thọ có hỏi Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ nội dung như sau: “Tôi đã từng kết hôn nhưng đã ly hôn và hiện nay muốn đăng ký kết hôn với người khác. Xin hỏi, tôi có cần cung cấp giấy tờ chứng minh việc đã ly hôn khi đăng ký kết hôn lần này không? Nếu cần thì tôi phải thực hiện như thế nào”?
Giải Quyết tình huống:
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nêu rõ, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Như vậy, trường hợp ông Nguyễn Hoàng Đ đã có bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân trước đây đã chấm dứt theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam, nữ kết hôn với nhau phải đáp ứng các điều kiện: nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; không bị mất năng lực hành vi dân sự và không thuộc một trong các trường hợp bị cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
Đồng thời, điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nghiêm cấm hành vi “người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác”. Do ông Đ đã ly hôn bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì không còn thuộc tình trạng đang có vợ, có chồng. Vì vậy, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn khác thì ông có quyền đăng ký kết hôn với người khác.
Về việc cung cấp thông tin, giấy tờ chứng minh đã ly hôn
Theo khoản 2 Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 18/2026/NĐ-CP, trường hợp người yêu cầu cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc đã có chồng nhưng đã ly hôn tại Tòa án thì người yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin về giấy tờ, gồm cơ quan cấp, số, ngày, tháng, năm ban hành bản án hoặc quyết định ly hôn.
Trên cơ sở thông tin do người dân cung cấp, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm tra cứu, khai thác thông tin về bản án, quyết định ly hôn thông qua Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Như vậy, theo quy định hiện hành, ông Đ không nhất thiết phải nộp bản sao bản án hoặc quyết định ly hôn ngay từ đầu nếu thông tin về việc ly hôn đã có thể được cơ quan đăng ký hộ tịch tra cứu, khai thác. Ông cần cung cấp chính xác thông tin về bản án hoặc quyết định ly hôn để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh.
Trường hợp thông tin về việc ly hôn chưa được cập nhật hoặc không tra cứu được trên cơ sở dữ liệu, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ thực hiện việc xác minh theo quy định. Nếu ông không còn bản án, quyết định ly hôn và cần có căn cứ để chứng minh việc ly hôn, ông có thể liên hệ Tòa án đã giải quyết việc ly hôn để được hướng dẫn cấp bản sao hoặc trích lục bản án, quyết định theo quy định./.
Tuyết Mai – Trung tâm TGPL Nhà nước