Câu hỏi 1: Người chưa thành niên được bảo đảm giữ bí mật cá nhân như thế nào?
Trả lời: Điều 13 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:
- Bí mật cá nhân của người chưa thành niên phải được tôn trọng, bảo vệ trong suốt quá trình tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, xử lý chuyển hướng, thi hành án và tái hòa nhập cộng đồng.
- Tòa án xét xử kín đối với vụ án hình sự có người chưa thành niên bị xâm hại tình dục hoặc trường hợp đặc biệt khác cần bảo vệ người chưa thành niên.
- Trường hợp người chưa thành niên là bị hại, người làm chứng tham gia tố tụng thì phải bố trí phòng cách ly hoặc các biện pháp bảo vệ khác.
Câu hỏi 2: Quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, phiên dịch của người chưa thành niên là người bị buộc tội được quy định như thế nào?
Trả lời: Điều 14 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:
- Người chưa thành niên là người bị buộc tội phải có người bào chữa.
- Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người chưa thành niên là người bị buộc tội thực hiện đầy đủ quyền bào chữa theo quy định của pháp luật.
- Người chưa thành niên khi tham gia tố tụng hình sự được trợ giúp pháp lý và phiên dịch miễn phí.
Câu hỏi 3: Người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội có quyền và nghĩa vụ gì?
Trả lời: Điều 21 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định:
- Người chưa thành niên là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
+ Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
+ Có người đại diện tham gia tố tụng;
+ Được sự hỗ trợ của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học trong trường hợp cần thiết;
+ Được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu về những nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án;
+ Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, vụ án;
+ Được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;
+ Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
+ Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- Ngoài các quyền và nghĩa vụ trên, người chưa thành niên là bị can, bị cáo còn có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
+ Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
+ Được sự hỗ trợ của người làm công tác xã hội trong quá trình tố tụng;
+ Khiếu nại quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng.
Câu hỏi 4: Người chưa thành niên là bị hại có quyền và nghĩa vụ như thế nào?
Trả lời: Khoản 1 Điều 22 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định người chưa thành niên là bị hại có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Có người đại diện tham gia tố tụng;
- Được sự hỗ trợ của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học trong trường hợp cần thiết;
- Được thông tin đầy đủ, kịp thời bằng ngôn từ đơn giản, thân thiện, dễ hiểu về những nội dung liên quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án;
- Được bảo đảm giữ bí mật cá nhân trong suốt quá trình giải quyết vụ việc, vụ án;
- Được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật;
- Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên;
- Được sự hỗ trợ của người làm công tác xã hội trong quá trình tố tụng;
- Được bồi thường thiệt hại và hỗ trợ theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên và các luật khác có liên quan;
- Khiếu nại quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng;
- Các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Câu hỏi 5: Gia đình của người chưa thành niên có trách nhiệm gì trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên?
Trả lời: Điều 33 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về trách nhiệm của gia đình người chưa thành niên như sau:
- Cha, mẹ, người chăm sóc người chưa thành niên và các thành viên khác trong gia đình có trách nhiệm sau đây:
+ Chấp hành quy định của pháp luật và quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên;
+ Thường xuyên liên hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm để được hướng dẫn, trợ giúp trong quá trình thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên;
+ Chấp hành quyết định, biện pháp, quy định của cơ quan, người có thẩm quyền để bảo đảm sự an toàn, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, bí mật cá nhân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của người chưa thành niên.
- Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có trách nhiệm tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc, vụ án; lựa chọn người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc tự mình bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người chưa thành niên trong quá trình tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Cha, mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên phạm tội có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Câu hỏi 6: Người chưa thành niên là người bị buộc tội, bị hại được xác định tuổi như thế nào?
Trả lời: Điều 25 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) quy định về xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội, bị hại như sau:
- Việc xác định tuổi của người chưa thành niên là người bị buộc tội, bị hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc xác định tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu gồm: Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Giấy chứng nhận căn cước, Hộ chiếu hoặc thông tin trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác.
Trường hợp các giấy tờ, tài liệu hoặc thông tin trong các cơ sở dữ liệu nêu trên có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu, thông tin này thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người đó học tập, lao động, sinh hoạt để xác minh, làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của họ.
- Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:
+ Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh;
+ Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh;
+ Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh;
+ Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.
- Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.
Minh Hạnh – Phòng PBGDPL