Theo đó, Nghị định này có 08 chương, 45 điều, quy định chi tiết một số điều của Luật Lưu trữ, bao gồm: Khoản 5 Điều 11 về xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ; Khoản 5 Điều 21 về kho lưu trữ chuyên dụng; Khoản 5 Điều 22 về lưu trữ dự phòng; Khoản 4 Điều 25 về tài liệu lưu trữ tiếp cận có điều kiện tại lưu trữ lịch sử; Khoản 6 Điều 53 về điều kiện đối với tổ chức đầu tư kinh doanh dịch vụ lưu trữ và trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ.
Đối tượng áp dụng gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động lưu trữ.
Các nội dung trọng tâm của Nghị định 113/2025/NĐ-CP bao gồm:
1. Xây dựng và cập nhật Cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ quốc gia: Quy định chi tiết về chuẩn hóa thông tin, nguồn dữ liệu, cách thức cập nhật và yêu cầu kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu, hướng tới sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý thông tin.
2. Quy định về Kho Lưu trữ số: Thiết lập khung pháp lý cụ thể cho Kho Lưu trữ số với các yêu cầu kỹ thuật, an toàn, bảo mật chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu quản lý tài liệu trong môi trường số.
3. Quy định về Lưu trữ dự phòng: Nâng cao các yêu cầu về tạo lập, bảo quản, sử dụng tài liệu lưu trữ dự phòng, đảm bảo an toàn và khả năng phục hồi tài liệu có giá trị đặc biệt.
4. Quy định về Tài liệu lưu trữ tiếp cận có điều kiện: Xác định rõ các trường hợp tài liệu được tiếp cận có điều kiện, đảm bảo cân bằng giữa quyền tiếp cận thông tin và yêu cầu bảo mật quốc gia.
5. Điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trữ: Quy định cụ thể điều kiện đối với các tổ chức đầu tư hạ tầng kỹ thuật bảo quản tài liệu lưu trữ và kinh doanh dịch vụ lưu trữ số, thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ.
Nghị định 113/2025/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 21/7/2025, cùng với các điều khoản chuyển tiếp, sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để hiện đại hóa toàn diện công tác lưu trữ, góp phần xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số tại Việt Nam./.