Nghị định được ban hành nhằm cụ thể hóa khoản 4 Điều 37 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15, góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1 và Điều 2)
Nghị định quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, các trường hợp loại trừ kỷ luật, miễn kỷ luật, giảm nhẹ mức kỷ luật và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Đối tượng áp dụng gồm cá nhân có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí; người có thẩm quyền, trách nhiệm xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đối tượng bị xử lý kỷ luật gồm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí trong phạm vi được giao quản lý, phụ trách; cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí hoặc có hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Người thực hiện hành vi gây lãng phí gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định.
2. Quy định về xử lý kỷ luật đối với hành vi gây lãng phí (Điều 7)
Nghị định quy định cụ thể các hình thức kỷ luật tương ứng với tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí:
- Hình thức khiển trách được áp dụng đối với trường hợp vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; trường hợp gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng nhưng có tình tiết giảm nhẹ; hoặc không ban hành, chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí gây lãng phí.
- Hình thức Cảnh cáo được áp dụng đối với trường hợp đã bị khiển trách mà tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng.
- Hình thức Cách chức được áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đã bị cảnh cáo mà tái phạm; hoặc có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng chưa đến mức buộc thôi việc, bãi nhiệm và người vi phạm có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả, đồng thời thuộc trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật.
- Hình thức Buộc thôi việc được áp dụng đối với công chức, viên chức đã bị xử lý kỷ luật theo quy định mà tái phạm hoặc có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc trường hợp tăng nặng theo quy định của pháp luật.
3. Xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu (Điều 6)
Nghị định đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong quản lý, sử dụng nguồn lực thuộc phạm vi được giao.
Trường hợp để xảy ra lãng phí do thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm quản lý, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu có thể bị xem xét, xử lý kỷ luật tương ứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi.
Quy định này góp phần bảo đảm nguyên tắc gắn trách nhiệm quản lý với trách nhiệm phòng, chống lãng phí, không chỉ xem xét trách nhiệm của người trực tiếp thực hiện hành vi gây lãng phí.
Theo đó, Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí ở cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách trực tiếp bị xem xét áp dụng hình thức kỷ luật như sau:
- Hình thức kỷ luật khiển trách được áp dụng trong trường hợp đề xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm.
- Hình thức kỷ luật cảnh cáo được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 03 năm đến 07 năm.
- Hình thức kỷ luật cách chức được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tù từ trên 07 năm đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.
4. Xử lý hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí (Điều 8)
Nghị định quy định việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức có hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Trong đó:
- Hình thức kỷ luật khiển trách áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức vi phạm lần đầu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm tra, kiểm toán tiết kiệm, chống lãng phí của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;
+ Cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí.
- Hình thức kỷ luật cảnh cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Đã bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quy định tại khoản Điều này mà tái phạm;
+ Vi phạm trong bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí theo quy định của pháp luật.
5. Các trường hợp loại trừ, miễn và giảm nhẹ mức kỷ luật (Điều 4)
Nghị định quy định cụ thể các trường hợp loại trừ kỷ luật, miễn kỷ luật và giảm nhẹ mức kỷ luật, bảo đảm việc xử lý được thực hiện khách quan, công bằng, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm và thái độ của người vi phạm.
Đặc biệt, việc chủ động phát hiện, báo cáo, tích cực hợp tác, tự giác nhận trách nhiệm, sửa chữa, khắc phục hậu quả và thực hiện các biện pháp hạn chế thiệt hại là những yếu tố được xem xét trong quá trình áp dụng quy định về giảm nhẹ mức kỷ luật.
6. Quy định về xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại (Điều 9)
Nghị định quy định nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi gây lãng phí. Thiệt hại được xác định là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí, được xác định trên cơ sở chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán và các bằng chứng hợp pháp, hợp lệ.
Việc xem xét trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất, mức độ hành vi gây lãng phí, thiệt hại thực tế, mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có trách nhiệm; bảo đảm khách quan, công bằng và công khai.
Trường hợp có nhiều người cùng gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người.
Nghị định đồng thời quy định phương pháp xác định thiệt hại đối với nhiều dạng hậu quả của hành vi gây lãng phí, trong đó có làm tăng chi ngân sách nhà nước; gây thất thoát ngân sách nhà nước, nguồn vốn của quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách và các thiệt hại khác theo quy định.
Dương Hằng – Văn phòng Sở
nghị định 267 xử lý vi phạm về PCLP.pdf