Nghị định có hiệu lực thi hành ngay từ ngày 28/7/2026, đặt ra những hành lang pháp lý mới, đồng bộ và đột phá cho hệ thống các ĐVSNCL từ Trung ương đến địa phương. Dưới đây là nội dung mới cốt lõi, trọng tâm và giá trị thực tiễn sâu sắc của Nghị định số 299/2026/NĐ-CP phục vụ công tác thông tin, tuyên truyền rộng rãi trong đời sống xã hội.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Nghị định quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và tự chủ về tổ chức bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập – tức là bao quát toàn bộ “vòng đời” tổ chức của một đơn vị sự nghiệp công lập, từ khi hình thành đến khi kết thúc hoạt động hoặc thay đổi mô hình quản lý.
- Đối tượng áp dụng được phân định theo ba cấp quản lý, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay: (i) đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ; (ii) đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bao gồm cả đơn vị thuộc sở, thuộc chi cục và tương đương thuộc sở; (iii) đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, đặc khu. Riêng đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Tòa án, Viện kiểm sát, Kiểm toán nhà nước được áp dụng theo quyết định riêng của cơ quan có thẩm quyền, bảo đảm phù hợp với đặc thù tổ chức.
Những nội dung cốt lõi, mang tính đổi mới của Nghị định
- Về nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể:
Nghị định khẳng định nguyên tắc một đơn vị sự nghiệp công lập có thể cung cấp nhiều dịch vụ sự nghiệp công trong cùng ngành, lĩnh vực hoặc đa ngành, đa lĩnh vực. Đáng chú ý, đơn vị sự nghiệp công lập thành lập mới phải tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu; việc tổ chức lại đơn vị do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên hoặc tự bảo đảm một phần chi thường xuyên không được làm tăng thêm số lượng người hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đây là quy định thể hiện rõ định hướng đẩy mạnh xã hội hóa, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.
- Về điều kiện thành lập
Đơn vị sự nghiệp công lập chỉ được thành lập khi phù hợp với quy hoạch ngành hoặc phương án phát triển mạng lưới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đáp ứng tiêu chí, điều kiện theo pháp luật chuyên ngành; xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ; và đặc biệt phải bảo đảm số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người (trừ đơn vị cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu). Quy định này nhằm khắc phục tình trạng thành lập tràn lan các đơn vị nhỏ, phân tán, kém hiệu quả.
- Về tự chủ tổ chức bộ máy
Nghị định phân cấp mạnh mẽ cho các đơn vị có mức độ tự chủ tài chính cao. Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên được quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị thuộc phạm vi quản lý theo đề án tự chủ đã được phê duyệt.
Về khung số lượng cấp phó, Nghị định quy định cụ thể: đơn vị có số lượng người làm việc từ 20 người trở xuống được bố trí không quá 02 cấp phó; trên 20 người được bố trí không quá 03 cấp phó; riêng bệnh viện hạng I trở lên, đơn vị y tế dự phòng tuyến tỉnh hạng I trở lên, trường phổ thông nhiều cấp học quy mô từ 40 lớp trở lên được bố trí không quá 03 cấp phó. Đối với các phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, điều kiện thành lập phòng là phải có từ 02 mảng công tác trở lên và bố trí từ 07 người làm việc trở lên; đơn vị có 07 đến 09 người làm việc được bố trí 01 Phó Trưởng phòng, từ 10 người trở lên được bố trí không quá 02 Phó Trưởng phòng.
- Về phân loại và xếp hạng
Đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại theo vị trí pháp lý, theo ngành, lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công (giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa - thể thao - du lịch, khoa học và công nghệ, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác), theo tính chất nhiệm vụ (dịch vụ phục vụ xã hội hoặc hỗ trợ quản lý nhà nước) và theo mức độ tự chủ tài chính.
Việc xếp hạng được thực hiện dựa trên bốn nhóm tiêu chí: quy mô tổ chức và khối lượng công việc; cơ cấu, trình độ lao động và độ phức tạp quản lý; hạ tầng cơ sở vật chất và mức độ số hóa; hiệu quả hoạt động và hiệu quả quản lý tài chính. Thời hạn xếp hạng là 5 năm, tạo cơ sở để đánh giá, sắp xếp lại đơn vị theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả cung ứng dịch vụ.
- Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền
Nghị định quy định chi tiết hồ sơ, đề án thành lập gồm 10 nội dung cơ bản (sự cần thiết và cơ sở pháp lý, mục tiêu và phạm vi hoạt động, cơ chế tài chính, dự kiến nhân sự, phương án tổ chức thực hiện...). Điểm mới có ý nghĩa quan trọng nhất là việc trao thẩm quyền quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập cho chính Ủy ban nhân dân cấp xã đối với các đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình, đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được giao thẩm quyền phân loại, xếp hạng các đơn vị này. Đây là bước cụ thể hóa nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” trong mô hình chính quyền hai cấp.
- Về chế độ báo cáo và quy định chuyển tiếp:
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo về tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổng hợp, gửi báo cáo về bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Bộ Nội vụ trước ngày 20/11 hằng năm. Đối với các đơn vị đã tổ chức lại mà số lượng cấp phó tạm thời vượt khung, Nghị định cho phép thời gian chuyển tiếp tối đa 05 năm để sắp xếp về đúng quy định, thể hiện tính khả thi, nhân văn trong quá trình triển khai.
Nghị định số 299/2026/NĐ-CP là bước tiến quan trọng, thể hiện quyết tâm cao của Chính phủ trong việc xây dựng một nền hành chính phục vụ, tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả. Việc phổ biến, quán triệt và thực hiện nghiêm túc Nghị định sẽ góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào chất lượng các dịch vụ công trong đời sống xã hội./.
(Xem chi tiết tại Văn bản đính kèm)
Hữu Văn – Phòng PBGDPL
Nghị định số 299.2026 về đơn vị sự nghiệp công lập.pdf