Hiện nay chưa có một định nghĩa hay khái niệm duy nhất về người tố cáo (NTC) nào được thừa nhận rộng rãi. Tuy nhiên, về phương diện quyền tự nhiên của con người, tố cáo là sự phản ứng của con người đối với tác động của ngoại cảnh, còn phương diện xã hội, tố cáo thể hiện sự bất bình của một cá nhân đối với hành vi của một chủ thể.
Theo từ điển Tiếng Việt, tố cáo là “báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó” hoặc “vạch trần hành động xấu xa hoặc tội ác cho mọi người biết nhằm lên án” [4, tr.973]. Đây là cách hiểu tố cáo một cách thông thường và phổ biến trong xã hội. Tuy nhiên định nghĩa này chưa thể hiện rõ được nội dung chủ thể của tố cáo và đối tượng tố cáo.
Tố cáo theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong Thư gửi đồng bào Liên khu IV, khi Bác ghi rằng: Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn… Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với nhân dân với Chính phủ. Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào biết rõ và khéo dùng quyền ấy [2].
Có thể nói, theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tố cáo là phương tiện để người dân phản ánh lại những hành vi xâm phạm tới quyền, lợi ích chính đáng của mình với cơ quan công quyền.
Dưới khía cạnh việc làm, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa tố cáo “người lao động hoặc người từng làm việc, tố cáo về hành vi bất hợp pháp, trái quy tắc gây nguy hiểm hoặc phi đạo đức do người sử dụng lao động thực hiện” [5].
Tuy nhiên, định nghĩa của ILO lại giới hạn chủ thể tố cáo, không đề cập tới tố cáo nhân dân mà chỉ giới hạn trong tố cáo của các thành viên, người trong tổ chức, cơ quan.
Tổ chức Hướng tới Minh bạch lại định nghĩa “Tố cáo là việc tiết lộ thông tin về việc làm sai trái trong tổ chức, hoặc các nguy cơ của chúng với các cá nhân hoặc tổ chức được cho là có khả năng thực hiện hành động hiệu quả. Mục tiêu cuối cùng của tố cáo là để bảo vệ lợi ích công cộng” [8, tr.2].
Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2018 (sau đây goi là Luật Tố cáo) đã định nghĩa “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:
a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;
b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”.
So với Luật Tố cáo 2011, định nghĩa này đã mở rộng giới hạn đối tượng tố cáo và phạm vi những hành vi được tố cáo, đó là chưa bao gồm những hành vi vi phạm quy tắc của đơn vị, tổ chức (điều lệ, quy chế, nội quy…), tuy nhiên chưa quy định việc tố cáo với những hành vi vi phạm đạo đức gây thiệt hại lợi ích công.
Có thể thấy, định nghĩa của Luật Tố cáo và của Tổ chức Hướng tới Minh bạch đều coi tố cáo là việc công dân cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước về hành vi sai trái. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 9 Luật Tố cáo cho rằng để giải quyết một vụ việc thì thông tin cung cấp phải chi tiết. Trường hợp NTC không cung cấp tài liệu làm bằng chứng khi cơ quan nhà nước yêu cầu, sẽ không có căn cứ để xác minh hành vi bị tố cáo nên cơ quan nhà nước có thể không thụ lý giải quyết tố cáo.
Từ những phân tích trên, nhìn chung có thể tổng kết những đặc điểm chung cơ bản của tố cáo bao gồm: một là, công bố thông tin về hành vi sai phạm; hai là, hướng tới mục đích vì lợi ích chung; ba là, các tố cáo hành vi sai phạm được thực hiện thông qua các kênh thông tin đã được quy định [7, tr.8].
Khoản 1 Điều 144 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 định nghĩa “tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền”. Về bản chất, tố giác và tố cáo là một, tố cáo là khái niệm chung, còn tố giác là tố cáo hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong BLHS, hay nói cách khác “trong tố tụng hình sự tố cáo hành vi tội phạm được gọi là tố giác về tội phạm” [3]. Ngoài ra, tố giác còn có những đặc điểm riêng biệt: một là, tố giác không chỉ là quyền mà là nghĩa vụ của công dân (Điều 19 BLHS 2015 quy định tội “không tố giác tội phạm”); hai là, quan hệ pháp luật hình sự phát sinh khi công dân biết về hành vi phạm tội; ba là, thông tin tố giác có thể được xem xét hoặc chỉ mang tính chất tham khảo; bốn là, việc tiếp nhận và giải quyết tố giác tội phạm theo quy trình của pháp luật tố tụng hình sự.
Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng Tố cáo là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức tiết lộ thông tin về việc làm được cho là sai trái trong một cơ quan, tổ chức, cộng đồng xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, cộng đồng cho những cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền để ngăn ngừa, xử lý và khắc phục hậu quả.
NTC thực hiện tố cáo khi có cơ sở và tin rằng hành vi đó là hành vi sai trái hoặc có biểu hiện sai trái. Có thể NTC nắm giữ những thông tin, bằng chứng chắc chắn dùng để chứng minh cho nội dung tố cáo hoặc cũng có thể không có bằng chứng mà chỉ là tin tưởng hoặc lầm tưởng rằng đó là hành vi vi phạm, đó là khi NTC muốn thực hiện trách nhiệm ngăn ngừa hành vi bất hợp pháp, trái quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức. Tuy nhiên, có một lưu ý là NTC tin hoặc lầm tưởng hành vi bị tố cáo là hành vi sai phạm chứ không phải là cố ý đưa ra thông tin không có thật hoặc có dụng ý xấu nhằm bội nhọ, hạ thấp danh dự mang tính cá nhân thì không được coi là tố cáo mà là lạm dụng quyền tố cáo [1,tr.45]. Trong trường hợp này họ phải chịu trách nhiệm về hành vi lạm dụng quyền tố cáo của mình trước pháp luật và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thời điểm tố cáo có thể là trước hoặc sau khi xảy ra hành vi sai trái. Trường hợp hành vi trái pháp luật sắp xảy ra, tố cáo là hình thức cảnh báo sớm về mối nguy hại. Mục đích chính của tố cáo lúc này là ngăn chặn những thiệt hại và mối nguy hiểm có thể xảy ra. Còn trong trường hợp tố cáo hành vi đã xảy ra, mục đích chính là xử lý sai phạm và khắc phục hậu quả do hành vi tố cáo gây ra.
Đặc điểm của quyền tố cáo
Theo tự nhiên, con người phản ứng lại mọi sự xâm phạm hoặc nguy cơ xâm phạm các quyền, nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích của mình. Tố cáo chính là quyền phản kháng, tự vệ của mọi cá nhân trước sự vi phạm về quyền có trong đời sống xã hội dân sự lẫn hoạt động của nhà nước. Có thể hiểu một cách đơn giản, tố cáo là việc tiết lộ thông tin về hành vi sai trái cho một chủ thể có khả năng giải quyết hiệu quả.
Trọng tâm của quyền tố cáo là quyền tự do ngôn luận [5,tr.4]. Nhìn nhận quyền tố cáo dưới góc độ là quyền con người, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố thông qua bản ghi chép phiên họp thứ 70, mục số 73 (b): “việc bảo vệ nguồn tin và NTC dựa vào cốt lõi của quyền tự do ngôn luận. Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền đảm bảo quyền được tiếp cận, thu nhận và tin truyền thông tin, ý kiến thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông nào, bất kể biên giới” [6]. Cũng coi tố cáo là quyền con người, David Banisar cho rằng: “trọng tâm của tố cáo là quyền tự do ngôn luận” [5, tr.4]. Yêu cầu các tổ chức phải đảm bảo các cá nhân có khả năng tiết lộ thông tin, tổ chức nên cởi mở và có trách nhiệm hơn với người lao động, các cổ đông và dân chúng trong những hoạt động của mình [5, tr.4].
Quyền tố cáo có những đặc trưng cơ bản của quyền con người, cụ thể:
- Tính phổ biến: quyền tố cáo là quyền vốn có và được áp dụng bình đẳng đối với tất cả mọi người, không có sự phân biệt vì bất kỳ lý do gì. Mức độ hưởng thụ quyền phụ thuộc vào năng lực của cá nhân từng người, cũng như hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá … mà người đó đang sống.
- Tính không thể tước bỏ: quyền tố cáo không thể bị tước bỏ hoặc hạn chế một cách tuỳ tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả cơ quan và quan chức nhà nước.
- Tính không thể phân chia: quyền tố cáo có tầm quan trọng tương xứng với các quyền khác. Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất định, miễn là dựa trên yêu cầu thực tế việc đảm bảo các quyền.
- Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: quyền tố cáo không tồn tại một mình mà nằm trong mối liên hệ phụ thuộc, tác động với các quyền khác. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng tiêu cực tới việc bảo đảm quyền khác.
Quyền tố cáo là quyền con người, vì vậy nhà nước phải có nghĩa vụ tôn trọng (kiềm chế không can thiệp vào việc thụ hưởng các quyền), nghĩa vụ bảo vệ (ngăn chặn sự vi phạm quyền con người từ bên thứ ba) và nghĩa vụ thực hiện (có những biện pháp nhằm hỗ trợ công dân hưởng thụ đầy đủ quyền).
Linh Chi
Tài liệu:
1. Mai Văn Duẩn (2016), Pháp luật về BVNTC ở Việt Nam hiện nay, Luật án tiến sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
2. Vũ Ngọc Huế (2011), Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiến nại, tố cáo, địa chỉ http://giri.ac.vn/tu-tuong-cua-chu-tich-ho-chi-minh-ve-khieu-nai-to-cao-va-giai-quyet-khieu-nai-to-cao_t104c2744n827tn.aspx, truy cập ngày 09/11/2011.
3. Lê Ra (2012), Cần thống nhất nhận thức về khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị các nguồn thông tin về tội phạm, tại http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/270, truy cập ngày 29/11/2012.·
4. Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng thế giới (2013), Tham nhũng từ góc nhìn của người dân, doanh nghiệp và cán bộ, công chức, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
5. David Banisar (2011), Whistleblowing: International Standards and Developments, https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1753180, 02/11/2011.
6. General Assembly UN (2010), Promotion and protection of the right to freedom of opinion and expression, http://repository.un.org/ handle/11176/284823, published on 8/11/2010.
7. G20 (2011), Study on whistleblower protection frameworks, Compendium of best practices and guiding principles for legislation, www.oecd.org.
8. Open Society Foundations (2013), The Global Principles on National Security and the Right to Information (The Tshwane Principles), https://www.opensociety foundations.org/publications/global-principles-national-security-and-freedom-information-tshwane-principles, 12/6/2013.