MỘT SỐ KỸ NĂNG ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN
CỦA NGƯỜI NHẬN NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC
Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi với người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký nuôi con nuôi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc đăng ký nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững, vì quyền, lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình, đồng thời cũng bảo đảm quyền làm cha, mẹ của người nhận nuôi con nuôi. Theo pháp lý, nuôi con nuôi là một hình thức chăm sóc thay thế trẻ em mang tính lâu dài, bền vững, bên cạnh các hình thức chăm sóc thay thế khác không nhằm mục đích xác lập mối quan hệ cha, mẹ, con như giám hộ, chăm sóc tại cơ sở nuôi dưỡng, tổ chức tín ngưỡng, tôn giáo… Vì vậy, nếu cơ quan quản lý có căn cứ để xác định việc nuôi con nuôi không đạt được mục đích theo quy định của Luật Nuôi con nuôi thì không tiến hành đăng ký nuôi con nuôi.
Trong quy trình, thủ tục đăng ký nuôi con nuôi có một bước rất quan trọng là đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi nhằm xác định xem người đó có đủ điều kiện để được nhận nuôi con nuôi hay không, đối với trường hợp người đang có vợ, có chồng thì việc đánh giá điều kiện được áp dụng đối với cả 02 vợ chồng. Căn cứ quy định pháp luật và thực tiễn quản lý, người viết cung cấp kỹ năng đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi trong nước cần lưu ý một số nội dung như sau:
- Về năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi người nhận con nuôi phải có năng lực hành vi dân sự. Theo Điều 20 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định, người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp: (1) mất năng lực hành vi dân sự; (2) người có có khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; (3) hạn chế năng lực hành vi dân sự. Như vậy, việc xác định một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ dựa trên nguyên tắc suy đoán, xác định tuổi người thành niên, từ đủ 18 tuổi trở lên và không thuộc 1 trong 3 trường hợp vừa nêu trên (Tuy nhiên, tuổi của người thành niên không đồng thời là tuổi của người được nhận nuôi con nuôi, mà được quy định ở một điều kiện độc lập khác).
- Về tuổi của người nhận con nuôi và khoảng cách độ tuổi với con nuôi: Người nhận con nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Tuy nhiên, khoảng cách chênh lệch độ tuổi này không áp dụng đối với trường hợp cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ, chồng làm con nguôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi (đối với trường hợp cô, cậu, dì, chú, bác ruột đã có chồng, vợ thì áp dụng với cả người chồng, vợ của người nhận con nuôi). Trường hợp người nhận con nuôi là cặp vợ, chồng thì khoảng cách chênh lệch độ tuổi nói trên áp dụng đối với cả người vợ và người chồng (nếu một bên vợ hoặc chồng không hơn con nuôi 20 tuổi thì cặp vợ, chồng đó không đáp ứng điều kiện nuôi con nuôi).
Pháp luật nuôi con nuôi hiện chưa có quy định về độ tuổi tối đa của người nhận con nuôi hoặc khoảng cách chênh lệch độ tuổi tối đa giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. Tuy nhiên, theo quy định của Luật người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi là người trên 60 tuổi, ở độ tuổi này họ đã bắt đầu có những hạn chế về sức khỏe, vận động và tinh thần nên pháp luật quy định người cao tuổi có quyền được con, cháu phụng dưỡng. Như vậy, đối với người trên 60 tuổi trở lên nhận con nuôi vừa không đảm bảo quyền đượng phụng dưỡng của người cao tuổi, vừa khó đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi đến tuổi trưởng thành, từ đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của trẻ được nhận làm con nuôi. Do đó, người nhận con nuôi là người cao tuổi thì không nên được tiếp nhận, giải quyết.
- Về điều kiện sức khỏe, kinh tế, chỗ ở đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi: (1) Điều kiện sức khỏe được hiểu bao gồm sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thân. Trường hợp người nhận con nuôi có vấn đề về sức khỏe thì cần có đánh giá chuyên sâu của bác sĩ để xác định người này có đủ điều kiện sức khỏe để chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ hay không. Ví dụ, người đang mắc chứng bệnh trầm cảm, mất trí nhớ… đang phải dùng thuốc điều trị thì không nên được giải quyết việc nhận con nuôi. (2) Về điều kiện kinh tế, chỗ ở, tuy luật con nuôi hiện nay chưa quy định thế nào là có điều kiện kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Nhưng đã được Bộ Tư pháp hướng dẫn tại Cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước dành cho công chức cấp xã, cụ thể: Điều kiện về nhà ở có thể là nhà ở kiên cố, bán kiên cố, nhà tạm; thuộc sở hữu của hộ gia đình, nhà thuê, ở nhờ. Điều quan trọng là cần đánh giá xem điều kiện nơi ở đó có đảm bảo an toàn cho trẻ được nhận làm con nuôi không. Người nhận con nuôi có thể có nhiều nơi ở khác nhau, trong đó nơi ở tạm trú có thể có điều kiện tốt hơn nơi thường trú, không phân biệt nơi thường trú hay tạm trú (lưu ý, công chức làm công tác tư pháp hộ tịch không được yêu cầu người nhận con nuôi xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ, hợp pháp khác). (3) Việc xác định điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi: xác định cá nhân, gia đình có thuộc hộ nghèo không, nếu thuộc hộ nghèo thì không đủ điều kiện nhận nuôi con nuôi. Điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi có thể xác định theo thu nhập trung bình hằng tháng của cá nhân, gia đình (có thể tính trong 12 tháng gần nhất) để xác định mức thu nhập trung bình đó có đảm bảo cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi và gia đình (đối với trường hợp người nhận con nuôi có con, cha, mẹ hoặc người khác phải chăm sóc, nuôi dưỡng) hay không. Nguồn thu nhập có thể từ công việc ổn định hoặc từ công việc làm công nhật, lương tháng, tuần hoặc từ buôn bán, kinh doanh, chế độ chính sách xã hội, làm nông nghiệp, hoặc nguồn thu hợp pháp khác hoặc từ các tài sản khác như bất động sản, nhà ở cho thuê, nguồn tiết kiệm… Như vậy, điều kiện kinh tế của người nhận con nuôi được đánh giá theo các tiêu chí ổn định của các khoản thu nhập, các khoản tiết kiệm khác (nếu có), tài sản của người nhận con nuôi. Việc đánh giá điều kiện kinh tế của người con nuôi theo mức sống chung ở địa phương. Để chứng minh điều kiện kinh tế, người nhận con nuôi có thể cung cấp sao kê bảng lương, bản chụp tài khoản tiết kiệm…. Lưu ý, điều kiện này không áp dụng đối với trường hợp cha dượng, mẹ kết nhận con riêng của vợ, chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu ruột làm con nuôi.
- Điều kiện về tư cách đạo đức: Việc xác định người có tư cách đạo đức tốt có thể được thực hiện qủa việc đánh giá người đó không có hành vi lệch chuẩn mực đạo đức xã hội hoặc những hành vi vi phạm pháp luật đã bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự như người bị người phạt tù nhưng cho hưởng án treo; người thường xuyên có hành vi chửi bới, hành hạ cha mẹ...
- Lưu ý đối với một số trường hợp không được nhận con nuôi quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi: (1) Đối với trường hợp đang chấp hành hình phạt tù theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi, là những người đang bị phạt “tước quyền tự do”, buộc họ phải cách ly khỏi cuộc sống xã hội trong thời gian bị phạt tù. Hình phạt tù có thể là tù có thời hạn hoặc tù chung thân. Như vậy, trường hợp người bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì không thuộc nhóm đang bị cách ly khỏi xã hội và không thuộc nhóm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi nêu trên, nếu có yêu cầu nhận nuôi con nuôi thì UBND cấp xã có tiếp nhận, đăng ký không? Câu trả lời là không, vì tuy họ không phải là người đang bị phạt tù, nhưng việc họ bị xử phạt tù cho hưởng án treo là không đáp ứng đủ điều kiện của người nhận con nuôi do “không có tư cách đạo đức tốt” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi. (2) trường hợp người chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em: Theo quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự, người được xóa án tích coi như chưa bị kết án. Như vậy, một người phạm một trong các tội nêu trên nhưng đã được xóa án tích thì không thuộc trường không được nhận nuôi con nuôi. Tuy nhiên, một người có hành vi ngược đãi, hành hạ cha mẹ đến mức bị xử lý hình sự về hành vi đó và đã được xóa án tích thì theo chuẩn mực văn hóa, phong tục của người Việt Nam không thể đánh giá người đó có tư cách đạo đức tốt. Do đó, nếu người này có nguyện vọng nhận con nuôi thì việc từ chối hồ sơ nhận con nuôi không phải với lý do họ thuộc trường hợp không được nhận con nuôi tại điểm d khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi mà từ chối với lý do không có đạo đức tốt theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi.
- Các căn cứ để xác định, đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi như: (1) Bản sao giấy tờ tùy thân (Giấy khai sinh Thẻ căn cước công dân, Thẻ căn cước, Hộ chiếu, giấy tờ có giá trị thay thế) là cơ sở để xác định về độ tuổi, khoảng cách độ tuổi của người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi. (2) Phiếu lý lịch tư pháp để xác định người nhận con nuôi có thuộc một trong các trường hợp bị cấm nhận nuôi con nuôi do đang chấp hành hình phạt tù, án treo hoặc chưa được xóa án tích về một số tội được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi. Lưu ý, theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 120/2025/NĐ-CP thì UBND cấp xã có trách nhiệm yêu cầu cơ quan quản lý dữ liệu lý lịch tư pháp cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (người nhận con nuôi không phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp). (3) Văn bản xác nhận tình trạng hôn nhân là cơ sở để xác định người nhận con nuôi là người độc thân hay là cặp vợ chồng (thực tế có thể sử dụng hình thức để tham chiếu như tra cứu trên cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu hộ tịch). (4) Giấy khám sức khỏe là cơ sở để xác định người nhận con nuôi có đáp ứng đủ điều kiện về sức khỏe hay không. Nếu giấy khám sức khỏe kết luận người nhận con nuôi có sức khỏe bình thường thì người đó được coi là đủ điều kiện sức khỏe để nhận con nuôi. (5) Văn bản xác nhận hoàn cảnh gia đình, tình trạng chỗ ở, điều kiện kinh tế do UBND cấp xã nơi thường trú của người nhận con nuôi cấp là cơ sở để đánh giá người nhận con nuôi có đủ điều kiện về kinh tế, chỗ ở, thu nhập để chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi hay không. (6) Giấy khai sinh, chứng nhận kết hôn là cơ sở xác định mối quan hệ giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi như cha dượng, mẹ kế hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột.
Việc cung cấp một số kỹ năng đánh giá điều kiện của người nhận con nuôi được xây dựng trên cơ sở bám sát quy định Luật Nuôi con nuôi, các văn bản pháp lý liên quan như Bộ luật dân sự, Luật Hình sự, Luật Người cao tuổi… và thực tiễn quản lý, đăng ký nuôi con nuôi tại UBND cấp xã trong thời gian qua. Trên thực tế, tùy từng trường hợp cụ thể công chức làm công tác tư pháp hộ tịch cấp xã vận dụng thực hiện linh hoạt trên cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc, quy định pháp luật về nuôi con nuôi, quyền lợi ích hợp pháp và tốt nhất cho trẻ. Từ đó đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước nói chung, trong lĩnh vực nuôi con nuôi nói riêng.
Nguyễn Thị Mai Phương – Phó phòng Hành chính tư pháp