VẤN ĐỀ THẨM QUYỀN ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI TRONG NƯỚC
TỪ PHÁP LÝ ĐẾN THỰC TIỄN QUẢN LÝ Ở CƠ SỞ
Nuôi con nuôi là một nội dung quan trọng trong công tác tác quản lý nhà nước. Pháp luật về nuôi con nuôi một mặt cung cấp hành lang pháp lý để Nhà nước thực hiện quản lý, bảo hộ quyền con người, quyền công dân. Mặt khác thúc đẩy, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” để mọi trẻ em được sống, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình; cũng như quyền được làm cha, làm mẹ, tạo sợi dây liên kết xây dựng gia đìnhbền vững, hạnh phúc, đặc biệt đối với các cặp vợ chồng hiếm muộn, người độc thân. Từ đó góp phần đảm bảo ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Ở Việt Nam, qua các giai đoạn lịch sử, tùy thuộc điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, pháp luật về nuôi con nuôi từng bước được củng cố, hoàn thiện. Đến nay nuôi con nuôi được xác định là một thể chế độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam, được đánh dấu bằng sự ra đời của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Luật Nuôi con nuôi ra đời đã trực tiếp khẳng định vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác nuôi con nuôi, đảm bảo pháp luật phải phù hợp với sự biến động, phát triển của các quan hệ xã hội.
Luật Nuôi con nuôi thống nhất điều chỉnh đầy đủ, toàn diện các nội dung về con nuôi ở trong nước và con nuôi có yếu tố nước ngoài như: Thẩm quyền đăng ký; điều kiện của người nhận, người được nhận làm con nuôi; những điều cấm trong đăng ký nuôi con nuôi; hồ sơ, trình tự thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về nuôi con nuôi... Sau 15 năm triển khai thi hành, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 vẫn đang được thực hiện hiệu quả, phù hợp với thực tiễn quản lý ở địa phương. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, công tác nuôi con nuôi còn có những khó khăn, vướng mắc, do những nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau về thể chế, trình độ dân trí, năng lực quản lý của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền. Xét riêng từ góc độ thể chế còn có những bất cập, gây khó khăn nhất định cho công tác quản lý về con nuôi ở cơ sở, trong đó có quy định về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước, chưa đảm bảo phù hợp giữa pháp luật và thực tiễn quản lý ở cơ sở, như sau:
Theo quy định khoản 1 Điều 9 Luật Con nuôi “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước”. Theo đó, việc đăng ký nuôi con nuôi được quy định chung là có thể được thực hiện tại UBND cấp xã nơi thường trú của người được nhận hoặc của người nhận nuôi con nuôi.
Tuy nhiên tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP ngày 05/3/2019 của Chính phủ và Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp quy định: “Đối với việc nuôi con nuôi trong nước, trường hợp cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.”
Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP thì thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi không được thực hiện theo nguyên tắc“lựa chọn” đối với mọi trường hợp, mà một số trường hợp phải thực hiện theo nguyên tắc“lãnh thổ”, cụ thể: Nguyên tắc lựa chọn hiểu là việc người nhận con nuôi có quyền lựa chọn đăng ký tại UBND cấp xã nơi mình cư trú hoặc nơi người được nhận làm con nuôi cư trú, gồm các trường hợp: (1) Cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; (2) Cô/cậu/dì/chú/bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì người nhận con nuôi được quyền lựa chọn nơi đăng ký là UBND cấp xã nơi cư trú của người nhận con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi. Nguyên tắc lãnh thổ, hiểu là việc người nhận con nuôi buộc phải đăng ký tại UBND cấp xã nơi mình cư trú hoặc nơi người được nhận làm con nuôi cư trú tùy thuộc đối tượng, mối quan hệ giữa người nhận và người được nhận làm con nuôi nêu tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP mà không có quyền lựa chọn, gồm các trường hợp: (1) Trẻ mồ côi không có người nuôi dưỡng hoặc trẻ có cha, có mẹ đẻ, người thân thích nhưng không có khả năng nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi thường trú của trẻ em thực hiện đăng ký nuôi con nuôi; (2) trẻ bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện; (3) trường hợp trẻ sống ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi thì UBND cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
Trên thực tế, cơ quan đăng ký, quản lý nhà nước về con nuôi gặp khó khăn, vướng mắc trong áp dụng thẩm quyền đăng ký con nuôi cho một số trường hợp như trẻ được nhận làm con nuôi là trẻ mồ côi, trẻ còn cha, mẹ hoặc trẻ có hoàn cảnh khó khăn khác. Ví dụ, người nhận con nuôi cư trú ở Phú Thọ, trẻ được nhận làm con nuôi là trẻ đăng ký cư trú tại tỉnh Khánh Hòa, nhưng thực tế đang ở cùng người nhận con nuôi tại Phú Thọ (trẻ có hoàn cảnh khó khăn, đã được người nhận nuôi chăm sóc trên thực tế, nhưng chưa thể đăng ký cư trú tại Phú Thọ). Khi xác định thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong trường hợp này theo pháp luật là UBND cấp xã nơi trẻ đăng ký cư trú tại Khánh Hòa; xét theo thực tế thì chưa thực sự phù hợp vì trẻ và người nhận con nuôi đều đang ở Phú Thọ. Do đó, việc xác định thẩm quyền đối với trường hợp này, trong thời gian qua đã có những quan điểm khác nhau cho rằng: Có thể áp dụng nguyên tắc “lựa chọn” theo quy định khoản 1 Điều 9 Luật Nuôi con nuôi, vì trẻ không thuộc nhóm đối tượng nêu tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP và áp dụng theo nguyên tắc Luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị định và nhằm đảm bảo phù hợp với thực tiễn. Quan điểm khác cho rằng phải thực hiện nguyên tắc xác định theo “lãnh thổ” nêu tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 24/2019/NĐ-CP cho đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 15 Luật Nuôi con nuôi là do UBND cấp xã nơi cư trú của tre thực hiện. Việc xác định nơi cư trú được thực hiện theo quy định pháp luật về cư trú, nhưng đảm bảo nguyên tắc xác định theo thứ tự ưu tiên từ nơi thường trú đến tạm trú và nơi thực tế đang sinh sống. Ví dụ khác cho thấy việc xác định thẩm quyền theo nguyên tắc lãnh thổ cũng chưa phù hợp với thực tiễn quản lý đối với trường hợp: Người nhận nuôi con nuôi cư trú ở Phú Thọ, trẻ được nhận làm con nuôi là trẻ bị bỏ rơi, được phát hiện và lập biên bản phát hiện trẻ bỏ rơi tại một xã trên địa bàn thành phố Hải Phòng, nhưng thực tế trẻ đang ở cùng người nhận con nuôi tại Phú Thọ. Khi xác định thẩm quyền, về pháp luật thì thẩm quyền giải quyết là UBND cấp xã nơi lập biên bản phát hiện trẻ bo rơi tại Hải Phòng nhưng về mặt thực tế đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của người dân thì UBND cấp xã nơi người nhận con nuôi và trẻ đang cư trú tại Phú Thọ thực hiện lại phù hợp hơn.
Như vậy có thể thấy luật, nghị định đã quy định rất cụ thể về thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước theo nguyên tắc “lựa chọn” và “lãnh thổ” làm cơ sở pháp lý rõ ràng cho địa phương thực hiện, tuy nhiên chưa đảm bảo tính khoa học, không thực sự phù hợp với thực tiễn quản lý ở cơ sở đối với 1 số trường hợp đặc biệt do hạn chế quyền lựa chọn như nêu ở trên. Hiện nay thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, yêu cầu nâng cao trách nhiệm của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm tra, xác minh hồ sơ, đặc biệt là đảm bảo phát huy tốt hơn quyền của người dân... Nên trong thời gian tới khi sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi vấn đề thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi trong nước cần được nghiên cứu, xem xét điều chỉnh cho phù hợp hơn, trong đó cần phát huy quyền lựa chọn cơ quan giải quyết việc nuôi con nuôi của người dân, nâng cao tính linh hoạt, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và hiệu quả công tác quản lý nhà nướctrong tình hình mới./.
Nguyễn Thị Mai Phương – Phó phòng HCTP