Căn cứ Văn bản số 2964/BTP - PB&TG ngày 28/5/2025 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn một số nội dung thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; trợ giúp pháp lý; hòa giải ở cơ sở; chuẩn tiếp cận pháp luật; hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp; Văn bản số 1142/UBND-NC6 ngày 26/7/2025 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở. Để đảm bảo triển khai một số nhiệm vụ thuộc lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật; chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở sau khi tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp được thông suốt, liên tục, không gián đoạn, trên cơ sở các quy định hiện hành, Sở Tư pháp ban hành Văn bản 351/ STP-PBGDPL ngày 1/8/2025 hướng dẫn UBND các xã, phường một số nội dung thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở, cụ thể như sau:
1. Lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật
Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 37 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 quy định tiêu chuẩn của tuyên truyền viên pháp luật; thẩm quyền công nhận, cho thôi làm tuyên truyền viên pháp luật thuộc về Chủ tịch UBND cấp xã. Do vậy, đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã khẩn trương rà soát, quyết định công nhận tuyên truyền viên pháp luậttheo hướng tinh gọn, hiệu quả, đảm bảo phù hợp với thực tiễn địa phương.
2. Công tác hoà giải ở cơ sở
2.1. Chủ tịch UBND cấp xã căn cứ vào đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội, dân số của xã, phường sau khi được hợp nhất quyết định số lượng tổ hoà giải ở cơ sở trên địa bàn, số lượng hòa giải viên trong một tổ hòa giải và tổ chức việc bầu hòa giải viên theo quy định tại Điều 8 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và Điều 12 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTWMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
Việc kiện toàn tổ hòa giải, hòa giải viên phải tuân thủ quy định về tiêu chuẩn, số lượng, thành phần tại Điều 7, khoản 2 Điều 12 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013; trong đó lưu ý việc huy động đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật, trợ giúp viên pháp lý, công an xã, Tổ viên Tổ bảo vệ an ninh trật tự tham gia, hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở (theo Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 17/4/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở giai đoạn 2024-2030”).
Trong thời gian chưa bầu được Tổ hòa giải mới thì Tổ hòa giải của thôn, bản, tổ dân phố cũ vẫn tiếp tục thực hiện nhiệm vụ hòa giải trên địa bàn cấp xã theo quy định hiện hành.
2.2. Tiếp tục tổ chức xây dựng các mô hình “cấp xã điển hình về hòa giải ở cơ sở” theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp, trong đó ưu tiên địa bàn có tỷ lệ hòa giải thành thấp hoặc địa bàn có nhiều vướng mắc trong triển khai Luật Hòa giải ở cơ sở, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
a) Cách thức xây dựng mô hình “cấp xã điển hình về hòa giải ở cơ sở”:
- Đánh giá tình hình dân số, kinh tế, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, bản sắc truyền thống, tình hình chấp hành pháp luật, thực trạng và khó khăn, vướng mắc trong công tác hòa giải ở cơ sở của địa phương.
- Rà soát, kiện toàn tổ hòa giải, hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải, bảo đảm mỗi thôn, tổ dân phố có 01 tổ hòa giải. Trong đó, huy động luật sư; luật gia, Hội thẩm nhân dân, lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, tuyên truyền viên pháp luật, cán bộ, công chức, viên chức công tác trong lĩnh vực pháp luật, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, hội viên Hội Người cao tuổi Việt Nam, người đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên cư trú trên địa bàn cấp xã tham gia vào danh sách những người dự kiến bầu làm hòa giải viên để tổ chức bầu theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT/CP-UBTƯMTTQVN ngày 18/11/2014 của Chính phủ và Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn phối hợp thực hiện một số quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở.
- Căn cứ vào kết quả đánh giá tình hình văn hóa, phong tục tập quán, bản sắc truyền thống, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội,... xác định các hoạt động cụ thể, ví dụ: tổ chức sinh hoạt định kỳ mỗi tổ hòa giải 01 lần/tháng; tổ chức giao lưu giữa các tổ hòa giải trên địa bàn cấp xã 01 lần/quý; mời luật sư, luật gia, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên giới thiệu, phổ biến kiến thức pháp luật, tập huấn kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên trên địa bàn cấp xã định kỳ 01 lần/06 tháng; in cấp phát tài liệu cho hòa giải viên…
b) Mô hình “cấp xã điển hình về hòa giải ở cơ sở” khi đáp ứng các điều kiện sau:
- 100% tổ hòa giải được củng cố, kiện toàn kịp thời, đảm bảo đủ số lượng, thành phần, tiêu chuẩn theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở.
- 100% hòa giải viên trên địa bàn được tập huấn kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải ở cơ sở ít nhất 02 lần/năm.
- 100% vụ, việc hòa giải được tiếp nhận, giải quyết theo đúng quy định pháp luật về hòa giải ở cơ sở; tỷ lệ hòa giải thành đạt từ 90% trở lên (đối với đơn vị cấp xã không phát sinh vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở thì không xác định tỷ lệ này).
- Trong thời gian thực hiện điểm, trên địa bàn đơn vị cấp xã không phát sinh vụ việc phức tạp, không hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự do vụ, việc trước đó thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở nhưng không được tổ hòa giải (hoặc hòa giải viên) tiếp nhận để tiến hành hòa giải.
- 100% tổ hòa giải được hỗ trợ kinh phí và 100% hòa giải viên được chi thù lao vụ, việc theo mức chi tối đa quy định tại văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh về nội dung chi, mức chi cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn hoặc mức chi tối đa theo Thông tư số 56/2023/TT-BTC ngày 18/8/2023 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Có huy động đội ngũ luật sư, luật gia, Hội thẩm nhân dân, lực lượng Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, người đã từng là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, người đã/đang công tác trong lĩnh vực pháp luật tham gia làm hòa giải viên hoặc hỗ trợ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
- Có tập thể hoặc cá nhân được cơ quan có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên tặng Giấy khen hoặc Bằng khen hoặc hình thức khen thưởng khác vì có thành tích xuất sắc về triển khai các giải pháp, sáng kiến trong công tác hòa giải ở cơ sở.
2.3. Thống kê số lượng tổ hoà giải, hoà giải viên ở cơ sở trên địa bàn (theo mẫu đính kèm) và gửi về Sở Tư pháp trước ngày 29/8/2025 để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh và Bộ Tư pháp theo quy định.
2.4. Căn cứ khoản 2 Điều 28 Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 và khoản 1 Điều 11 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP 27/2/2024 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hòa giải ở cơ sở, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 889/QĐ-BTP ngày 21/4/2024 về Mẫu sổ theo dõi hoạt động hoà giải ở cơ sở. Đề nghị các địa phương cập nhật tên gọi của đơn vị hành chính mới và thống nhất sử dụng Mẫu sổ theo dõi hoạt động hoà giải ở cơ sở theo quy định của Bộ Tư pháp.
2.5. UBND cấp xã tiếp nhận nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hòa giải ở cơ sở cho hòa giải viên
- UBND cấp xã ban hành quyết định thành lập đội ngũ tập huấn viên hoà giải ở cơ sở cấp xã từ nguồn: Những người đã từng là tập huấn viên cấp huyện và nguồn cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoà giải ở cơ sở của UBND cấp xã; cán bộ, công chức thuộc tổ chức chính trị - xã hội tham gia công tác hoà giải ở cơ sở; báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, thẩm phán, kiểm sát viên, hội thẩm nhân dân, luật gia, luật sư, lực lượng Công an nhân dân và các cá nhân khác đáp ứng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luậtđể tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ và kỹ năng hoà giải ở cơ sở cho hoà giải viên trên địa bàn.
- Ngày 18/7/2025, Bộ Trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2372/QĐ-BTP về việc ban hành Chương trình khung bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ hòa giải cho hòa giải viên ở cơ sở, UBND cấp xã căn cứ Chương trình khung này để xây dựng kế hoạch, triển khai tổ chức việc bồi dưỡng cho hòa giải viên phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ này hằng năm về Sở Tư pháp (lồng ghép trong Báo cáo công tác tư pháp) để tổng hợp báo cáo UBND tỉnh, Bộ Tư pháp theo quy định.
2.6. UBND cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở tại địa phương; xem xét, quyết định hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng trong khi thực hiện hoạt động hòa giải được quy định tại Điều 18 Nghị định số 15/2014/NĐ-CP (tiếp nhận nhiệm vụ quyết định hỗ trợ khi hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng khi thực hiện hoạt động hòa giải của UBND cấp huyện - theo điểm b, tiểu mục 3.3, mục 3 phần II Văn bản số 1866 ngày 9/4/2025 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tư pháp tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp).
3. Công tác đánh giá cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật
3.1. Tạm dừng việc tổ chức đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật năm 2025 để tạo điều kiện cho các địa phương ổn định bộ máy sau sắp xếp. Việc đánh giá, công nhận xã, phường đạt chuẩn tiếp cận pháp luật từ năm 2026 trở đi sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
3.2. Tiếp tục sử dụng các tiêu chí, chỉ tiêu được ban hành tại Quyết định số 1143/QĐ-BTP ngày 20/6/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp để đánh giá tiêu chí tiếp cận pháp luật trong xét, công nhận xã đạt nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao.
Trên đây là nội dung hướng dẫn triển khai một số nhiệm vụ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở. Trong quá trình triển khai, nếu có vướng mắc đề nghị phản ánh về Sở Tư pháp (qua Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật) để phối hợp, hướng dẫn./.
1.8 cv trien khai mot so nvu pbgdpl cap xa.pdf