Qua nghiên cứu hồ sơ dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), có thể thấy Ban soạn thảo đã có nhiều đổi mới quan trọng cả về tư duy xây dựng chính sách và kỹ thuật lập pháp. Nhiều bất cập của Luật năm 2012 đã được nhận diện và bước đầu được xử lý như: hoàn thiện mô hình quản lý nhà nước phù hợp tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; bổ sung cơ chế phân cấp, phân quyền cho địa phương; tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; mở rộng cơ chế xã hội hóa, huy động sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nhà nước.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn của cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương, có thể thấy một số nội dung của dự thảo mặc dù đã thể hiện được định hướng đổi mới, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để bảo đảm tính khả thi, tính đồng bộ và hiệu quả thực chất khi triển khai trong thực tiễn.
1. Từ “trách nhiệm của hệ thống chính trị” đến “trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu”
Một trong những điểm đáng ghi nhận của dự thảo là tiếp tục khẳng định phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung mà chưa cá thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu thì rất khó tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực hiện.
Thực tiễn tại nhiều địa phương cho thấy, ở đâu người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị quan tâm, trực tiếp chỉ đạo, ở đó công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai đồng bộ, sáng tạo, huy động được sự tham gia của nhiều lực lượng. Ngược lại, ở những nơi chưa có sự quan tâm đúng mức, nhiệm vụ này dễ bị “hành chính hóa”, giao khoán cho cơ quan tư pháp hoặc công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã.
Kinh nghiệm từ các lĩnh vực cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng nông thôn mới hay cải thiện môi trường đầu tư cho thấy: chỉ khi trách nhiệm người đứng đầu được lượng hóa, gắn với đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ hằng năm thì chính sách mới thực sự đi vào cuộc sống.
Vì vậy, dự thảo Luật cần nghiên cứu bổ sung theo hướng: Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý; kết quả thực hiện là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hằng năm. Đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp, mà là điều kiện tiên quyết để chuyển từ “trách nhiệm tập thể” sang “trách nhiệm giải trình”.
2. Từ “bảo đảm nguồn lực tương xứng” đến “bảo đảm nguồn lực có thể đo lường được”
Dự thảo Luật đã có bước tiến khi xác định Nhà nước ưu tiên nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với nhóm yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn khó khăn. Tuy nhiên, việc tiếp tục sử dụng thuật ngữ “nguồn lực tương xứng” trong quy định về bảo đảm kinh phí vẫn mang tính định tính, chưa tạo được căn cứ pháp lý đủ rõ để địa phương tổ chức thực hiện thống nhất.
Từ góc độ thực tiễn, đây là điểm cần được đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cùng một nhiệm vụ phổ biến pháp luật, chi phí triển khai giữa khu vực đô thị, đồng bằng với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số có sự chênh lệch rất lớn. Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, địa bàn quản lý của nhiều xã được mở rộng, khối lượng công việc tăng lên đáng kể, trong khi nguồn lực con người và kinh phí chưa có sự điều chỉnh tương ứng.
Trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, đào tạo nghề, pháp luật đều đã thiết kế tương đối rõ hệ thống tiêu chuẩn, định mức, chế độ chi hoặc cơ chế đặt hàng cung cấp dịch vụ công. Đây là kinh nghiệm rất đáng tham khảo đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Do đó, dự thảo Luật cần được hoàn thiện theo hướng: Nhà nước bảo đảm nguồn lực tối thiểu cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo tiêu chí, định mức do Chính phủ quy định; ưu tiên bố trí nguồn lực cho địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Việc lượng hóa trách nhiệm ngân sách không chỉ giúp nâng cao tính khả thi, mà còn tạo cơ sở cho công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và đánh giá hiệu quả đầu tư công.
3. Xã hội hóa phải đi kèm cơ chế tài chính cụ thể
Dự thảo Luật đã mở rộng đáng kể cơ chế xã hội hóa, cho phép xây dựng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là hướng đi đúng, phù hợp với yêu cầu huy động nguồn lực xã hội.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là “ưu đãi bằng cách nào, hỗ trợ theo phương thức nào, cơ chế tài chính được vận hành ra sao” thì dự thảo chưa làm rõ.
Kinh nghiệm từ các lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường, trợ giúp pháp lý, truyền thông công ích cho thấy, xã hội hóa chỉ thực sự hiệu quả khi Nhà nước thiết kế được các công cụ tài chính phù hợp, như: đặt hàng cung cấp dịch vụ công; giao nhiệm vụ theo sản phẩm đầu ra (giao cho các công ty công nghệ, cơ quan báo chí, trường đại học, đoàn luật sư, hội luật gia xây dựng video pháp luật, podcast PL, app PL, bộ Infographic, chương trình truyền thông số, khóa học PL online); hỗ trợ kinh phí thực hiện mô hình, đề án; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn; ưu tiên sử dụng cơ sở vật chất công; chính sách tôn vinh (doanh nghiệp đồng hành cùng pháp luật; tổ chức tiêu biểu về PBGDPL, ...); chính sách ưu đãi thuế, phí, lệ phí cho các doanh nghiệp tài trợ phần mềm pháp luật, học liệu pháp luật, thiết bị, ... Nếu không thiết kế rõ các công cụ này, quy định về xã hội hóa sẽ khó đi vào thực tiễn.
Vì vậy, dự thảo Luật cần bổ sung theo hướng: Nhà nước thực hiện cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc lựa chọn tổ chức, cá nhân cung cấp sản phẩm, dịch vụ phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của pháp luật; đồng thời có chính sách hỗ trợ kinh phí, đào tạo, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là điều kiện quan trọng để phát huy vai trò của đội ngũ luật sư, luật gia, chuyên gia pháp lý, cơ quan báo chí, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp công nghệ trong bối cảnh chuyển đổi số.
4. Phân cấp phải gắn với nguồn lực và trách nhiệm thực thi
Dự thảo Luật đã có bước tiến khi tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương, đặc biệt là trao thẩm quyền cho HĐND cấp tỉnh ban hành chính sách hỗ trợ phù hợp điều kiện thực tiễn.
Tuy nhiên, phân cấp chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi kèm với nguồn lực, nhân lực và cơ chế phối hợp liên ngành.
Sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, cấp xã trở thành cấp trực tiếp, gần dân nhất, đồng thời cũng là cấp chịu áp lực lớn nhất trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nếu chỉ giao nhiệm vụ mà chưa thiết kế đầy đủ cơ chế hỗ trợ chuyên môn, chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu, nguồn kinh phí thì nguy cơ quá tải, hình thức là rất rõ.
Do đó, dự thảo cần nhấn mạnh nguyên tắc: Phân cấp, phân quyền trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn với phân bổ nguồn lực, bảo đảm điều kiện nhân lực, công nghệ, cơ sở dữ liệu và trách nhiệm phối hợp liên ngành. Đây là nguyên tắc đã được khẳng định rất rõ trong nhiều lĩnh vực quản trị công hiện nay và cần được thể chế hóa nhất quán.
5. Đánh giá hiệu quả phải chuyển từ “đếm hoạt động” sang “đo tác động”
Một trong những hạn chế kéo dài của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là cách thức đánh giá còn nặng về số lượng: bao nhiêu hội nghị, bao nhiêu tài liệu, bao nhiêu lượt người tham dự.
Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật không phải là “đã tuyên truyền bao nhiêu”, mà là “người dân hiểu gì, thay đổi nhận thức ra sao, hành vi tuân thủ pháp luật có chuyển biến hay không”.
Kinh nghiệm trong quản lý công, cải cách hành chính, chuyển đổi số, giáo dục, y tế hiện nay đều đang chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý kết quả đầu ra.
Do đó, dự thảo Luật cần quy định rõ hơn: Việc đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm đo lường được mức độ tiếp cận thông tin pháp luật, mức độ hiểu biết pháp luật, sự thay đổi nhận thức và hành vi tuân thủ pháp luật của đối tượng được phổ biến. Đây là nền tảng để nâng cao chất lượng, tính thực chất và hiệu quả lâu dài của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật lần này không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành, mà còn là cơ hội quan trọng để chuyển đổi tư duy từ “tuyên truyền pháp luật” sang “quản trị xã hội bằng pháp luật”, từ “cung cấp thông tin” sang “xây dựng văn hóa pháp lý”, từ “thực hiện nhiệm vụ” sang “đo lường kết quả và tạo chuyển biến xã hội”.
Từ thực tiễn công tác tại địa phương, việc tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng rõ trách nhiệm, đủ nguồn lực, có công cụ thực thi và đo được hiệu quả sẽ là yếu tố quyết định để Luật sau khi được ban hành thực sự đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đỗ Thúy Vân - Phó giám đốc Sở